Điều trị bệnh thận tiết niệu trong thai kỳ

Điều trị các bệnh thận – tiết niệu thường xảy ra trong thai kỳ

Điều trị nhiễm độc thai nghén – Tiền sản giật:

Nhập viện, theo dõi theo chuyên khoa sản phụ.

  • Hạ huyết áp: Là vấn đề quan trọng nhất của điều trị tiền sản giật. Thường dùng loại giãn mạch hoặc Alpha methyldopa, tránh dùng thuốc lợi tiểu và các thuốc ức chế men chuyển.
  • Magne Sulphate: Là loại thuốc cố điển trong sản giật, có tác dụng làm giảm tần suất các cơn co giật và dự phòng được các cơn co giật trong sản giật.
Điều trị nhiễm độc thai nghén - Tiền sản giật

Điều trị nhiễm độc thai nghén – Tiền sản giật

Cách dùng: Liều tải ban đầu là 4g đến 6g truyền tĩnh mạch trong khoảng 15 phút, sau đó truyền tĩnh mạch 2g mỗi giờ để duy trì nồng độ Magne máu trong khoảng 4 đến 6 µmol/l. Những trường hợp nhẹ hơn, chưa có biểu hiện sản giật, có thể dùng đường tiêm bắp.

Chấm dứt thai kỳ: Là biện pháp cuối cùng.

Dự phòng: Khám thai định kỳ, theo dõi kỹ huyết áp, Protein niệu. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao thì phải thăm khám ít nhất 2 tuần 1 lần, sau đó nếu tình trạng nhiễm độc thai nghén vẫn còn thì phải nhập viện theo dõi trong những tháng sau của thai kỳ.

Điều trị nhiễm trùng đường tiểu trong thai kỳ:

Điều trị bệnh nhân có vị khuẩn niệu nhưng lâm sàng không có triệu chứng: dùng một đợt kháng sinh trong vòng 7 đến 10 ngày.

Bảng 2. Các kháng sinh thường được sử dụng để điều trị nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng và viêm bàng quang trong thai kỳ.

Kháng sinh Liều lượng
Ampicilline 500 mg x 4 lần / ngày
Amôxycilline 250 mg x 3 lần/ ngày
Nitrofurantoin 50 mg x 4 lần 7 ngày
Cephalexine 250 mg x 2 lần/ ngày
Amôxycilline/A. Clavulanic 250/62,5 mg x 3 lần /ngày

Điều trị viêm thận bể thận cấp:

Nhập viện.

Dùng ngay kháng sinh đường tiêm tĩnh mạch.

Thường khởi đầu bằng Ampicilline hoặc Cephalosporine thế hệ 3 (Ceftriaxone, Cefotaxime,…).

Khi tình trạng lâm sàng cải thiện, sau 1 đến 2 tuần có thể chuyển sang đường uống và phải điều trị tiếp tục kháng sinh ít nhất 2 đến 3 tuần nữa.

Theo dõi về sau bằng cách cấy nước tiểu mỗi 2 đến 3 tuần để dự phòng tái phát.

Điều trị suy thận cấp trong thai kỳ:

Điều trị suy thận cấp trong thai kỳ về nguyên tắc không khác gì với điều trị suy thận cấp ngoài thai kỳ, bao gồm:

  • Duy trì tốt huyết động, đảm bảo tưới máu thận đầy đủ.
  • Thuốc lợi tiểu: chú ý thận trọng trong những trường hợp huyết áp hạ.
  • Điều chỉnh rối loạn điện giải và cân bằng toan kiềm.
  • Lọc máu ngoài thận khi cần thiết: thường dùng thận nhân tạo vì thấm phân phúc mạc không dùng được khi có thai.
  • Kết hợp Nội –  Sản khoa để giải quyết nguyên nhân (thai chết lưu, bong bánh nhau,…).

Thái độ xử trí trước một thai nghén xảy ra trên bệnh thận mạn tính

  • Dự phòng: khuyên bệnh nhân không nên mang thai đối với những bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính, đặc biệt là những bệnh nhân đã có suy thận mạn.
  • Dùng các phương pháp ngừa thai thông thường.

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply

Y Đức
Logo
Enable registration in settings - general