Viêm cầu thận cấp là gì? Biểu hiện và cách điều trị bệnh

Đại cương

Theo quan niệm cổ điển, viêm cầu thận cấp gồm hai hình thái có tốn thương giải phẫu bệnh khác nhau là viêm cầu thận cấp thông thường và viêm cầu thận cấp ác tính:

– Viêm cầu thận cấp thông thường hầu hết xuất hiện sau nhiễm liên cầu khuẩn với triệu chứng như phù, tiểu ít, tiểu ra máu, cao huyết áp, có protein niệu, có thể có suy tim, suy thận. Đặc điểm giải phẫu bệnh học là tăng sinh tế bào trong mạch, nghĩa là trong mao quản cầu thận. Bệnh này có thể khỏi hoàn toàn.

– Viêm cầu khuẩn ác tính xuất hiện đa số không do liên cầu khuẩn, khởi phát từ từ với các triệu chứng như phù, thiểu niệu kéo dài, suy thận tiến triển nhanh, tử vong sớm nên còn gọi là viêm cầu thận tiến triển nhanh. Đặc điểm giải phẫu học là tăng sinh tế bào Bowman và tổ chức xơ dạng hình liềm nên còn được gọi là viêm cầu thận hình liềm.

Bệnh viêm cầu thận cấp

Bệnh viêm cầu thận cấp

Ngày nay, nhờ những tiến bộ trong sinh thiết xem qua kính hiển vi điện tử, nhờ kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang và nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng, đã thống nhất:

  • Viêm cầu thận cấp không chỉ là một bệnh đơn thuần mà còn là một hội chứng gọi là hội chứng cầu thận cấp. Lý do là bệnh cảnh lâm sàng giống nhau nhưng tổn thương bệnh học rất khác nhau: Bệnh không chỉ do liên cầu mà còn do tụ cầu, phế cầu, vị rút, hội chứng viêm cầu thận cấp còn biểu hiện thứ phát sau các bệnh như lupus ban đỏ hệ thống, ban dạng thấp, viêm động mạch quanh nút, hội chứng ure máu, tan máu…

– Viêm cầu thận cấp ác tính trước đây còn gọi là viêm cầu thận bán cấp, nay được gọi là viêm cầu thận tiến triển nhanh. Tên gọi này đặc trưng cho quá trình tiến triển của bệnh, tử vong sớm do suy thận, ít qua khỏi sau 6 tháng,

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh hay gặp ở trẻ em và xuất hiện sau một đợt nhiễm khuẩn liên cầu ở cố hang hoặc ngoài da 7-15 ngày. Nhiễm khuẩn ngoài da thường ủ bệnh dài ngày hơn.

Các bệnh nhiễm khuẩn ở răng cũng có thể dẫn đến viêm cầu thận cấp. Viêm cầu thận cấp cũng xảy ra do nhiễm virus, tụ cầu, hoặc do các bệnh khác.

Khởi phát

Thường đột ngột, có thể có dấu hiệu báo trước như mệt mỏi, chán ăn, cảm giác tức mỏi vùng hông lưng cả hai bên.

Cũng có bệnh nhân còn có triệu chứng sốt, viêm họng hoặc viêm da. 

Phù

Lúc đầu thường xuất hiện ở mặt như nặng mi mắt, có thể qua khỏi nhanh nhưng cũng có thể lan xuống chi rồi toàn thân.

Phù mềm, trắng, ấn lõm để lại dấu ngón tay.

Phù quanh mắt cá, mặt trước xương chày, mu bàn chân. Có thế phù nặng toàn thân, ở bụng, lưng, phận sinh dục. Nặng hơn có thể có cổ trướng, tràn dịch màng phổi, màng tim, phù phổi cấp, phù não.

Phù nề chân

viêm cầu thận gây phù nề

viêm cầu thận gây phù nề

Phù phụ thuộc ít nhiều vào ăn uống.

Đái ít hoặc vô niệu 

Xuất hiện sớm. Bệnh thận thường đái được khoảng 500-600ml/24. Khi có thiểu niệu (nước tiểu dưới 500ml/24h) hoặc vô niệu . (nước tiểu dưới 200ml/24h) là có biểu hiện suy thận cấp.

Đái ra máu

Thường xuất hiện sớm cùng phù.

Đái máu đại thể, nước tiểu đỏ hoặc sẫm màu khi hồng cầu niệu trên 30.000 phút. Hoặc đái máu vi thể có hồng cầu niệu nhưng không nhiều. Hồng cầu thường méo mó, vỡ thành nhiều mảnh, nhược sắc. 

Trụ hồng cầu là một dấu hiệu, đặc trưng chứng tỏ là từ thận xuống. Đái máu đại thể thường khỏi sớm nhưng đái máu vi thể thường kéo dài, hồng cầu niệu thường 3 tháng mới hết. Do đó, phải theo dõi dài ngày, ba tháng xét nghiệm lại nước tiểu một lần.

Cao huyết áp

Trên 60% số bệnh nhân có biểu hiện cao huyết áp. Tăng cả huyết áp tâm thu và tâm trương. Phù phối cấp là một tai biến thường gặp do cao huyết áp, phù và suy tim trái.

Suy tim

Ít gặp, nhưng nếu có thì tiên lượng thường xấu.

Có thể suy tim trái do cao huyết áp.

Có thể suy tim toàn bộ do giữ muối, giữ nước và cao huyết áp.

Tình trạng cận lâm sàng

Xét nghiệm máu

Thường có thiếu máu nhẹ, bình sắc hoặc nhược sắc. 

Tốc độ máu lắng tăng.

Protein niệu

Bao giờ cũng có, trung bình từ 2-3g/24h, cá biệt protein niệu tăng trên 3,5g/24h. Rất hiếm gặp hội chứng thận hư ở bệnh nhân viêm cầu thận cấp.

Bổ thể máu giảm

90% bệnh nhân có bổ thể máu giảm, giảm thành phần C3 là chủ yếu. Tuần thứ 5 vẫn thấp, sang tuần thứ 6 mới trở về bình thường.

Kháng thể kháng liên cầu tăng

Đáp ứng miễn dịch trong viêm cầu thận cấp biểu hiện rõ rệt với sự hiện diện của một hoặc nhiều coenzyme liên cầu.

– Kháng Streptolysin (ASLO)

– Kháng Streptokinase (ASK)

Kháng Nicotinadenin dinucleotidase (ANADAZA)

– Kháng Hyaluronidase (AH)

Tăng ASLO rất đặc hiệu cho nhiễm khuẩn liên cầu ở họng nhưng nhiễm khuẩn ngoài da thì ít đặc hiệu hơn. ASLO thường tăng trước các men khác. Cho nên, cần xác định nhiều men và tiến hành nhiều lần. 

Tiến triển

Viêm cầu thận cấp do liên cầu thường xuất hiện ở trẻ em và tiên lượng tốt hơn. 80% ở trẻ em khỏi hoàn toàn.

Ở người lớn khỏi 60%, thường tiên lượng nặng hơn. Có thể khỏi hoàn toàn (60%), chết trong đợt cấp (1-2%) trong vòng 2-6 tuần, tiến triển nhanh (6-10%) tử vong trong vòng 6 tháng, viêm cầu thận mạn (10-20%) tiềm tàng trong nhiêu năm. 

Điều trị bệnh viêm cầu thận cấp

Chỉ định cho kháng sinh penicillin hoặc kháng sinh thích hợp

Khi có dấu hiệu nhiễm liên cầu. Tuy nhiên, chưa có tư liệu nào khẳng định rằng kháng sinh có thể ngăn ngừa sự nặng lên của bệnh viêm cầu thận cấp do liên cầu.

Có thể mỗi tháng cho 2,4 triệu đơn vị Benzathyl benzylpenicillin (extencillin) để đề phòng tái nhiễm liên cầu.

Các thuốc Corticosteroid và giảm miễn dịch không có tác dụng, do đó không cần dùng. Chủ yếu là điều trị triệu chứng:

Phù, suy tim

– Hạn chế nước, ăn nhạt

– Lợi tiểu: Furosemind (lasix) 40mg x 1-2 viên/24h. Khi có phù phổi và phù phổi cấp thì tiêm tĩnh mạch 20mg x 1-2 ống.

Điều trị bệnh viêm cầu thận gây suy tim

Điều trị bệnh viêm cầu thận gây suy tim

Cao huyết áp

– Dùng lợi tiểu và ăn nhạt như trên.

– Alphamenthyldopa 250mg x 1 – 2 viên/ 24h. Hoặc Nifedipin chậm 20mg x1-2 viên/24h.

– Thuốc an thần.

– Thuốc trợ tim.

Chỉ nên dùng sau khi chống phù và cao huyết áp tốt nhưng vẫn còn dấu hiệu ứ huyết ở tuần hoàn phổi, suy tim.

Thường chỉ trong 1 tuần là bệnh nhân sẽ đái tốt, các triệu chứng khác giảm dần. Nếu không đáp ứng, đái ít, lượng ure và creatinin trong máu tăng cao, có chỉ định lọc máu ngoài thận.

Chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt

Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi và dinh dưỡng hợp lý: ăn nhạt, ít mỳ chính, ít protid, dùng protid có giá trị sinh học cao như trứng, sữa, thịt, cá nạc, nhất là khi có thiểu niệu, ure máu tăng cao… khi có thiểu niệu thì tạm ngừng rau quả để phòng tăng kali máu.

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply

Y Đức
Logo
Enable registration in settings - general