UNG THƯ PHỔI

Tóm lược về ung thư phổi 

Các ca tử vong do ung thư phổi vẫn đang tăng cao đặc biệt là ở các quốc gia châu Âu, mặc dù những thống kê gần đây cho thấy tỷ lệ này có chiều hướng giảm xuống ở nhóm các phụ nữ trẻ.

Ung thư phổi là căn bệnh ung thư phổ biến nhất trên thế giới, theo Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) có trụ sở tại Lyon, Pháp. Hầu hết các trường hợp mắc bệnh này đều do thuốc lá. Tỉ lệ được cứu chữa trong thời gian 5 năm ở các bệnh nhân ung thư phổi thấp hơn 15%.

Ung thư phối là căn bệnh ung thư gây tử vong nhiều hơn bất kỳ loại ung thư nào khác. 8/10 ung thư phổi liên quan đến thuốc lá.

Vì phần lớn ung thư phổi được phát hiện trễ nên chỉ 10% được điều trị tận gốc.

Ho dai dẳng và đờm máu là triệu chứng của ung thư phổi

Ung thư phổi có thể được chẩn đoán qua xét nghiệm đờm, qua nội soi phế quản lấy mẫu thử, dùng kim qua ngực lấy mẫu hoặc cắt mẫu qua phẫu thuật.

Điều trị ung thư phổi dựa trên loại, vị trí và kích thước cũng như tuổi và sức khỏe của bệnh nhân. 

Nguyên nhân gây ra ung thư phổi

80% ung thư phổi  mắc phải do thuốc lá. Có trên 2000 tác nhân sinh ung thư được biết trong khói thuốc lá. Những tế bào ở người bình thường sẽ thay đổi thành ung thư khi tiếp xúc với chất sinh ung thư. Những chất sinh ung thư phổi bao gồm radon, asbestos, bischolomethylether, nickel, chromates, bột than, những chất đồng có hoạt tính phát xạ và arsenic.

Nhiều nghề có gia tăng nguy cơ ung thư phổi. Chẳng hạn như công nhân đập đá có nguy cơ gia tăng 92 lần so với người bình thường và công nhân đúc nguy cơ tăng 3-8 lần. Nguy cơ cũng gia tăng trong những người làm việc trong nhà máy sản xuất thuốc, xà phòng, thuốc sinh màu vô cơ, nhựa và cao su tổng hợp.

Nguy cơ ung thư phổi cũng gia tăng với liều lượng tiếp xúc chất sinh ung. Ví dụ nguy cơ ung thư phổi cũng tăng, tỉ lệ thuận với số điếu thuốc được hút. Người hút thuốc lá thì có nguy cơ cao gấp 8-20 so với số với người không hút thuốc. Nhiều chất sinh ung thư cùng tác động trên một cơ thể thì càng gia tăng nguy cơ ung thư phổi. Khi tiếp xúc vừa

asbestos và thuốc lá thì nguy cơ ung thư phổi tăng lên gấp nhiều lần.

Nguy cơ ung thư phổi gia tăng ở những người sống tại thành thị cao gấp 1,2 đến 2,3 lần so với người sống ở miền quê. Cũng có sự gia tăng ung thư phổi trong những người vừa hút thuốc lá và có bà con gần bị ung thư. Sẹo do nhiễm trùng hoặc chấn thương trước đó cũng liên quan đến ung thư phổi.

Các loại ung thư phổi

Ung thư phổi được sắp xếp thành loại tế bào nhỏ và tế bào không nhỏ. Loại tế bào không nhỏ thì được phân chia thành carcinom tuyến, phế quản phổi, tế bào gai và tế bào lớn. Xấp xỉ 75-85% ung thư phổi là tế bào không nhỏ và 15 – 25% là loại tế bào nhỏ.

Ung thư tế bào không nhỏ của phổi

Phần lớn ung thư tế bào không nhỏ phát triển ở vùng ngoại vi của phổi. Vì ở ngoại vi nên loại này thường không có triệu chứng cho đến khi chúng được phát hiện trên film X quang ngực. Loại này thường có xu hướng di căn đến phần khác của cơ thể như xương, hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống), tuyến thượng thận, gan và phổi đối diện.

Thường có sẹo trong carcinoma tuyến. Đôi khi ung thư phát triển trong những vùng sẹo cũ của phổi. Trong những trường hợp khác thì sẹo xuất hiện sau khi ung thư phát triển.

Carcinom phế quản phổi và phế quản là carci-nom tế bào không nhỏ được tìm thấy trên khắp đường hô hấp. Khi được phát hiện nếu là một khối đơn độc trên film X quang phổi thì tiên lượng tốt. Tỷ lệ sống thêm 5 năm sau phẫu thuật là 75- 90%. Tuy nhiên, nếu nó xuất hiện dưới dạng lan tỏa thì tiên lượng xấu. 

Carcinom tế bào gai chiếm tỉ lệ 30-40% của loại carcinom tế bào không nhỏ. Loại này có xu hướng ở trung tâm của phối, thường trong khí quản. Vì những ung thư này nằm gần hoặc trong khí đạo nên chúng thường gây triệu chứng sớm. Hốc đờm máu là triệu chứng thường gặp nhất. Ung thư có thể gây tắc khí đạo làm khó thở và viêm phổi.

Carcinom tế bào lớn chiếm khoảng 10% của loại tế bào không nhỏ. Loại ung thư này thường có ít đặc điểm riêng biệt về cấu trúc khi xem dưới kính hiển vi. Rất khó để phân biệt nó với loại ung thư di căn từ nơi khác đến phổi.

Ung thư tế bào nhỏ của phổi

Đây là loại nặng nhất và tiên lượng xấu nhất của phối, thường có xu hướng phát triển nhanh và di căn sớm đến các phần khác của cơ thể.

Loại này thường thấy là một khối nằm ở tâm của phổi trên phim X quang. Tổn thương nguyên phát gieo rắc đến hạch bạch huyết của ngực và đi vào máu đi đến các phần khác của cơ thể như gan, não, tủy sống thận, tụy, và tuyến thượng thận. 

Hiếm khi loại này được điều trị bằng phẫu thuật vì ung thư nguyên phát quá lớn khi phát hiện hoặc đã di căn rồi. Tuy nhiên loại này đáp ứng tốt với xạ trị và hoá trị.

Các triệu chứng của ung thư phổi

Loại tế bào gai và tế bào nhỏ có thế gây ra ho, thở nông, đờm máu, đau ngực, khò khè hoặc viêm phổi. 

Carcinom tế bào tuyến thường ở phần ngoài của phổi và gây nên đau ngực khi thở, ho hoặc thở nôn. Đa số bệnh nhân không triệu chứng khi bệnh được phát hiện lần đầu tiên trên phim X quang ngực.

Carcinom tế bào nhỏ và tế bào tuyến của phổi được phát hiện đầu tiên với triệu chứng của bệnh di căn. Điều này có nghĩa là triệu chứng liên quan đến nơi mà ung thư di căn đến, không nhất thiết tại phổi.

Những triệu chứng chỉ ra ung thư đã lan rộng bao gồm khàn giọng, nuốt khó, sưng mặt, tay và cổ. Di căn tế bào ung thư đến các cơ quan khác ngoài phổi liên quan đến tất cả các loại ung thư của phổi nhưng thường nhất là loại ung thư tế bào nhỏ và carcinom tế bào tuyến. Nhức đầu, mệt, tê tay hoặc yếu liệt là chỉ điểm gợi ý ung thư di căn đến não hoặc tủy sống. Điều này yêu cầu điều trị khẩn cấp. Đau xương hoặc đau bụng là triệu chứng của ung thư di căn đến vùng này.

Chẩn đoán ung thư phổi

Một trong bốn cách sau đây giúp chẩn đoán ung thư phổi khi có nghi ngờ mắc bệnh:

  1. Xét nghiệm đờm tìm tế bào ung thư. Đờm được tập trung sau ba ngày thì tỉ lệ dương tính cao hơn 1 ngày.
  2. Soi phế quản bằng ống mềm nhỏ bằng cách xuyên qua mũi vào khí quản để phát hiện tế bào ung thư, đồng thời sinh thiết. Lấy mẫu bằng cách dùng bàn chải chải lên sang thương hoặc là dùng kim chích vào sang thương đế lấy mẫu đem thử.
  3. Sinh thiết bằng kim qua da bằng cách đưa kim nhỏ qua da và thành ngực để đến sang thương. Điều này có ích đối với bề mặt của phổi. Sự tiếp cận này được hỗ trợ bằng cách sử dụng scan CAT để hướng dẫn kim chính xác hơn. Trong một số nhỏ trường hợp, rò khí có thể xảy ra. Điều này thường tự giới hạn và chỉ 5% trường hợp cần thiết dẫn lưu ngực để hút .
  4. Cắt hoặc vứt bỏ bằng phẫu thuật những khối nghi ngờ có thể giúp chẩn đoán. Điều này có thể thực hiện qua vết rạch nhỏ ở ngực hoặc soi ngực. 

Phương pháp này liên quan đến việc đưa một camera nhỏ vào ngực và lấy một mẫu mô phổi bằng cách sử dụng hoặc là kẹp hoặc là laser.

Hóa trị liệu là dùng thuốc để giết tế bào ung thư. Nó là phương pháp được chấp nhận như cách điều trị đầu tiên đối với ung thư tế bào nhỏ. Loại ung thư tế bào nhỏ của phổi có tỉ lệ thành công cao với hoá trị liệu, đặc biệt khi chỉ khu trú ở ngực.

Trong những trường hợp ung thư những tế bào không nhỏ của phổi thì hoá trị liệu có thể được sử dụng một mình hoặc là kết hợp với xạ trị.

Hóa trị sau phẫu thuật ung thư phổi bằng thuốc mới

Sau phẫu thuật, bệnh nhân ung thư phổi phải dùng hóa trị, một liệu pháp có nhiều tác dụng phụ đáng sợ. Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh đang nghiên cứu một phương pháp hóa trị mới giảm tối đa các phản ứng khó chịu này, đặc biệt là không gây rụng tóc.

Mặc dù mới chỉ áp dụng trên 40 bệnh nhân trong thời gian gần 12 tháng nhưng phương pháp hóa trị sau phẫu thuật mới đã mang lại những kết quả rất khả quan. Bệnh nhân không còn phải chịu những tác dụng phụ như mệt nhiều, ói mửa, thời gian phục hồi chậm và đặc biệt là không còn bị rụng tóc.

Hóa trị trong ung thư phổi sau phẫu thuật thường bắt đầu sau phẫu thuật khoảng 3 tuần. Thông thường, sau khi mổ cắt khối u bệnh nhân sẽ được áp dụng hóa trị bổ sung với 4 chu kỳ. Mỗi chu kỳ cách nhau 21 ngày.

Từ trước đến nay, phẫu trị và xạ trị là hai phương pháp chủ yếu điều trị ung thư. Sau phẫu thuật lấy khối u, sẽ còn nhiều tế bào ung thư còn sót lại nên người bệnh cần áp dụng một quy trình trị liệu mới (như xạ trị, hóa trị) để tiêu diệt và kìm hãm sự phát triển trở lại của chúng. Trong điều trị ung thư phổi, xạ trị thường không có kết quả; vì vậy hóa trị (dùng thuốc) là phương pháp điều trị sau phẫu thuật tốt nhất. Với các thuốc thế hệ cũ, số bệnh nhân được áp dụng hóa trị không nhiều vì họ sợ các tác dụng phụ (nhất là rụng tóc); các tác dụng phụ này thường vượt quá sức chịu đựng của những bệnh nhân già, yếu.

Khi các thuốc chống ung thư thế hệ mới ra đời, hóa trị sau mổ ngày càng được áp dụng rộng rãi và mang lại những kết quả tốt, nhất là đối với bệnh nhân được mổ cắt thùy phổi hay một bên phổi.

Theo đó, gần 70% bệnh nhân thích ứng tốt với thuốc mới. Tuy nhiên, giá thành một chu kỳ điều trị bằng các thuốc thế hệ mới khá cao, khoảng trên dưới 10 triệu đồng, tùy theo loại thuốc và trọng lượng của bệnh nhân.

Điều trị ung thư phối trong tương lai

Hiện tại việc điều trị thành công ung thư phổi thấp. Tuy nhiên, việc ngăn ngừa sẽ giúp giới hạn một cách tốt nhất của tình trạng này. Ngay cả với chương trình truy tìm và phát hiện ung thư phổi, nhiều nghiên cứu cho thấy không cải thiện về tỉ lệ sống còn một cách đáng kể. Tránh hoặc giới hạn tiếp xúc với tác nhân sinh ung đã được biết (đầu tiên là thuốc lá) là cách tốt nhất ngăn ngừa ung thư phổi.  

Điều trị ung thư phối trong tương lai có thể liên quan đến kháng thế – kỹ thuật xạ trị trực tiếp, tức là kháng thể trực tiếp chống lại tế bào ung thư mang phân tử phát tia “radioactive bullets” đến tấn công và phá hủy tế bào ung thư. Những nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm cách dùng thuốc hay phẫu thuật nhằm giúp điều trị các thể khác nhau của căn bệnh nguy hiểm này.

Ánh sáng mặt trời, vitamin D tốt cho bệnh nhân ung thư phổi

Nhiều ánh sáng mặt trời và vitamin D có thể giúp cho những bệnh nhân ung thư phổi kéo dài thời gian sống sau khi tiến hành phẫu thuật. Những bệnh nhân dùng nhiều vitamin D và tiến hành phẫu thuật trong những tháng nắng có khả năng sống sau 5 năm cao gấp đôi những bệnh nhân ít dùng vitamin D và tiến hành phẫu thuật trong  những tháng mưa, ẩm ướt, kết quả nghiên cứu được tiến hành trên 455 bệnh nhân bị ung thư phổi trong thời gian từ năm 1992 đến 2000 của các chuyên gia ở Đại học Harvard. 

Nếu nghiên cứu được phê chuẩn thì có nghĩa là vitamin D sẽ là chất dinh dưỡng bổ sung “những điều kiện thuận lợi cho sự sống” cho bệnh nhân trước và sau khi tiến hành phẫu thuật. 

Tuy mối quan hệ giữa vitamin D và kết quả của phẫu thuật vẫn chưa được biết đến nhưng những nghiên cứu khác cho thấy vitamin D có thể kiềm chế một số loại ung thư như: ung thư đại tràng, tiền liệt tuyến, vú, viêm khớp mãn tính, ung thư trực tràng… 

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply

Y Đức
Logo
Enable registration in settings - general