UNG THƯ BÀNG QUANG

Bàng quang là gì?

Bàng quang là một cơ quan rỗng nằm trong bụng dưới chứa nước tiểu. Thận lọc chất cặn bã từ máu và sản sinh nước tiểu, nước tiểu được dẫn vào bàng quang qua hai cái ống gọi là niệu quản. Nước tiểu ra khỏi bàng quang xuyên qua cái ống khác gọi là niệu đạo. Ở phụ nữ, niệu đạo là một ống ngắn mở ra đúng phía trước, trên âm đạo. Ở đàn ông, niệu đạo dài hơn, chạy xuyên qua tuyến tiền liệt và sau đó qua niệu đạo dương vật.

Ung thư bàng quang là gì?

Khi các tế bào ở bàng quang lớn lên quá nhanh chóng và không có bất kỳ trật tự nào. Có quá nhiều mô được tạo ra, và những khối u bắt đầu thành hình. Những khối u có thế lành tính hoặc ác tính.

Những khối u lành tính thì không phải là ung thư. Chúng không di căn tới những bộ phận khác của cơ thể và ít khi đe dọa tới cuộc sống. Thường, những khối u lành có thể được loại bỏ bởi giải phẫu, và chúng sẽ không tái phát.

Những khối u ác tính là ung thư. Chúng có thể xâm phạm và phá huỷ mô và những cơ quan mạnh khoẻ gần bên cạnh. Những tế bào ung thư cũng có thể di chuyển từ khối u vào dòng máu và hệ thống bạch huyết. Điều đó giải thích tại sao ung thư có thể lan rộng tới những bộ phận khác của cơ thể. Sự lan rộng này được gọi di căn. Dù ung thư bàng quang được loại bỏ, nhưng bệnh đôi khi tái phát trở lại, bởi vì tế bào ung thư có thể đã lan rộng.

Đa số các ung thư bàng quang phát triển ở lớp trong bàng quang. Ung thư thường trông như một nấm nhỏ dính vào thành bàng quang. Còn được gọi một khối u có gai thịt. Ung thư bàng quang khá thường gặp. Người da trắng bị ung thư bàng quang gấp hai lần người da đen, và đàn ông bị ung thư bàng quang nhiều hơn nữ gấp 2-3 lần. Đa số các ung thư bàng quang xuất hiện sau tuối 55, nhưng bệnh có thể cũng phát triển ở những người trẻ hơn.

Những yếu tố có nguy cơ gây ung thư bàng quang

Người ta vẫn không biết tại sao người này bị ung thư bàng quang còn người khác thì không. Ung thư bàng quang không phải là bệnh truyền nhiễm.

Không ai có thể bị lây ung thư bàng quang từ người khác. Những nhà khoa học vẫn chưa biết chính xác yếu tố nào gây ra bệnh này, nhưng nghiên cứu cho thấy rằng một số người này lại dễ bị hơn so với người khác. Một số nhân tố làm tăng lên nguy cơ cao này. 

Việc hút thuốc là một nhân tố nguy hiểm chính. Những người nghiện hút thuốc lá mắc bệnh ung thư bàng quang cao gấp từ 2 tới 3 lần so với những người không hút thuốc. Bỏ thuốc sẽ giảm đi nguy cơ mắc ung thư bàng quang, ung thư phổi, vài loại ung thư khác, và một số bệnh khác nữa.

Những công nhân làm trong ngành cao su, hoá học, và công nghiệp thuộc da, cũng như người tạo mẫu tóc, thợ máy, công nhân luyện kim, công nhân in, họa sĩ, công nhân dệt, và tài xế xe tải có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn người làm ở các ngành nghề khác.

Biểu hiện triệu chứng của ung thư bàng quang

Dấu hiệu cảnh báo chung nhất của ung thư bàng quang là có máu trong nước tiểu. Tùy thuộc vào số lượng máu có trong nước tiểu mà màu của nước tiểu có thể thay đổi từ đỏ lợt tới màu đỏ thẫm. Đau trong thời gian đi tiểu có thể cũng là một dấu hiệu của ung thư bàng quang. Nhu cầu đi tiểu nhiều hoặc ngay lập tức có thể là dấu hiệu cảnh báo nữa. Thường những khối u bàng quang không có triệu chứng.

Khi những triệu chứng xuất hiện, chúng không phải là dấu hiệu chắc chắn của ung thư. Chúng có thể do những bệnh nhiễm trùng, những khối u lành tính, sỏi bàng quang, hoặc những vấn đề khác. Điều quan trọng là tới khám bác sĩ để xác định nguyên nhân của những triệu chứng. Bất kỳ bệnh nào cũng cần phải được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.

Chẩn đoán ung thư bàng quang

Để chẩn đoán ung thư bàng quang, ngoài việc hỏi kỹ tiền sử cá nhân và gia đình, bệnh nhân cần được thăm khám kỹ lưỡng. Đôi khi, bác sĩ có thể cảm thấy một khối u lớn trong lúc thăm khám trực tràng hoặc âm đạo. Ngoài ra, những mẫu nước tiểu được kiểm tra dưới kính hiển vi để xem bất kỳ những tế bào ung thư nào có mặt.

Thường, bác sĩ chỉ định chụp X quang có bơm thuốc cản quang qua đường tĩnh mạch (IVP). Xét nghiệm này cho phép bác sĩ nhìn thấy thận, ống niệu quản, và bàng quang trên X quang. Một IVP bình thường ít gây ra khó chịu cho người bệnh, tuy nhiên có một

số ít bệnh nhân bị buồn nôn, choáng váng, hoặc đau do chích thuốc cản quang.

Bác sĩ cũng có thể nhìn trực tiếp vào trong bàng quang với dụng cụ nội soi (cystoscope). Trong thủ thuật này, một ống mỏng nhỏ có ánh sáng được đưa vào bàng quang thông qua niệu đạo. Nếu bác sĩ nhìn thấy bất kỳ những vùng bất thường nào, bác sĩ sẽ sinh thiết nó để đem đi xét nghiệm, quan sát dưới kính hiển vi để tìm tế bào bất thường. Ung thư bàng quang chỉ có thế được chẩn đoán bằng sinh thiết.

Điều trị ung thư bàng quang

Việc điều trị ung thư bàng quang phụ thuộc vào một số nhân tố như: số lượng, kích thích, và vị trí của những khối u, mức độ lan rộng của ung thư, tuổi và sức khỏe của bệnh nhân.

Xác định giai đoạn bệnh

Trước khi bắt đầu điều trị, điều quan trọng là biết chính xác ung thư còn khu trú hay đã di căn. 

Việc phân chia giai đoạn bao gồm khám lâm sàng, xét nghiệm máu, chụp cắt lớp điện toán (CT Scan) là cần thiết. Đôi khi, người ta còn dùng phương pháp cộng hưởng từ là phương pháp dùng nam châm điện thay vì tia X, cũng tạo nên hình ảnh, để xác định giai đoạn bệnh.

Phương pháp điều trị

Thuốc chữa ung thư bàng quang mới

Các nhà khoa học thuộc Đại học Michigan (Mỹ) đã tìm thấy sự liên hệ giữa protein HER 2 và bệnh ung thư bàng quang di căn. Qua khảo sát 113 người bị ung thư bàng quang di căn, người ta nhận thấy 52% có nồng độ HER 2 tăng cao và có nguy cơ gây di căn ở gan, phổi và xương nhiều hơn so với người có nồng độ HER 2 thấp.

Bằng cách sử dụng kết hợp Herceptin (sản phẩm dùng điều trị ung thư vú của Roche) và các liệu pháp hóa trị thường quy, người ta nhận thấy chỉ có 7% bệnh nhân ung thư có HER 2 tăng cao di căn đến những bộ phận khác. Herceptin được đánh giá ít tác dụng phụ hơn những thuốc chữa ung thư cổ điển, bởi thuốc chỉ nhắm vào các phân tử đặc biệt đóng vai trò trong sự phát triển ung thư, nhưng lại không làm hại những tế bào bình thường.

Khi khối u trong bàng quang lớn hoặc có nguy cơ tái phát, thì sau khi cắt bỏ khối u người ta phải dùng thêm thuốc. Bác sĩ có thể đặt một dung dịch chứa trực khuẩn Bacille Calmette – Guerin (BCG), một dạng của phương pháp chữa bệnh sinh học, trực tiếp vào trong bàng quang. Phương pháp chữa bệnh hoá chất (những thuốc chống ung thư) cũng có thể được đưa trực tiếp vào trong bàng quang.

Phương pháp chữa bệnh bằng tia xạ (còn gọi là xạ trị) có thể dùng đến khi ung thư không thể được loại bỏ bằng phương pháp mổ qua nội soi bàng quang vì u xâm lấn quá nhiều, chiếm gần hết bàng quang. Tia X phá hủy khả năng phát triển và phân chia của tế bào ung thư. Phương pháp xạ trị trong là chất phóng xạ được đặt trong bàng quang, có thể được kết hợp với xạ trị ngoài, là kỹ thuật mà máy xạ trị được đặt bên ngoài cơ thể. Đối với phương pháp xạ trị trong, chất phóng xạ được đưa vào trong bàng quang bằng ống nội soi. Phương pháp này giúp tia xạ được gần tế bào ung thư hơn nên tế bào ung thư dễ bị tiêu diệt hơn, trong khi đó các mô lân cận ít bị ảnh hưởng. Người bệnh phải nằm viện khoảng 4 tới 7 ngày.

Đối với điều trị bằng xạ trị ngoài, bệnh nhân cần tới bệnh viện hoặc phòng khám mỗi ngày. Thông thường, điều trị được thực hiện 5 ngày mỗi tuần cho 5 tới 6 tuần. Phương pháp này giúp bảo vệ mô tế bào bình thường khỏi việc lan truyền ra ngoài của tổng liều tia xạ. Khi ung thư lan rộng bề mặt của bàng quang hoặc đã phát triển vào trong thành bàng quang, lúc này cần phải cắt bỏ toàn bộ bàng quang. Giải phẫu này được gọi là cắt bỏ toàn bộ bàng quang (cystectomy) căn bản.

Trong phẫu thuật này, bác sĩ phẫu thuật loại bỏ bàng quang cũng như những cơ quan gần bên cạnh. Ở phụ nữ, phẫu thuật này bao gồm loại bỏ tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng, và một phần của âm đạo. Ở đàn ông, tuyến tiền liệt và túi tinh được loại bỏ. Các nghiên cứu đang được triển khai để tìm cách điều trị bảo tồn bàng quang. Khi ung thư bao gồm dương vật hoặc có di căn ra tới những bộ phận khác của cơ thể, bác sĩ có thế gợi ý phương pháp chữa bệnh bằng hoá chất, sử dụng thuốc chống ung thư đi theo dòng máu để tới được những tế bào ung thư trong tất cả các bộ phận của cơ thể. Thuốc thường sử dụng để điều trị ung thư được dùng bằng đường uống hoặc tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Phương pháp hóa trị liệu được thực hiện từng đợt, điều trị – nghỉ rồi lại tiếp tục điều trị…

Người bệnh thường được cho điều trị ngoại trú bệnh viện, ở phòng mạch bác sĩ, hoặc ở nhà. Đôi khi bệnh nhân cần phải ở lại bệnh viện trong thời gian ngắn.

Kiểm tra sau điều trị ung thư bàng quang

Việc khám đều đặn rất quan trọng sau điều trị ung thư bàng quang. Bàng quang cần kiểm tra với nội soi. Bất kỳ những khối u bê mặt nào tái phát đều được loại bỏ. Nước tiểu được kiểm tra phát hiện tế bào ung thư và chụp X quang ngực, IVP, hoặc những xét nghiệm khác có thể được thực hiện.

Một bệnh nhân ung thư bàng quang cần phải theo dõi chặt chẽ vài năm, bởi vì những khối u bàng quang có thể tái phát. Nếu ung thư tái phát, thì sự dò tìm sớm là quan trọng để việc điều trị bổ sung có thể được khởi động.

Tác dụng phụ của việc điều trị ung thư bàng quang là gì?

Những phương pháp thường dùng để điều trị ung thư bàng quang thường có tác dụng phụ rất lớn. Khó mà giới hạn tác dụng phụ của điều trị để duy nhất những tế bào ung thư được phá huỷ, mô tế bào mạnh khoẻ có thể cũng bị hư hại. Điều này giải thích tại sao việc điều trị có thể gây ra tác dụng khó chịu. Tác dụng phụ phụ thuộc vào kiểu điều trị được sử dụng và phần cơ thể được điều trị..

Khi bàng quang được loại bỏ, bệnh nhân cần một cách mới để cất giữ và chuyển nước tiểu. Nhiều phương pháp được sử dụng. Một trong những cách đó là, bác sĩ phẫu thuật sử dụng một mảnh ruột non người để tạo một ống dẫn mới. Một đầu của ruột non được nối với niệu quản còn đầu kia đem ra ngoài phía thành bụng dưới. Lỗ mới được gọi là lỗ tiểu nhân tạo. Một túi phù hợp với lỗ tiểu nhân tạo một để tập hợp nước tiểu, và nó được giữ đúng chỗ 1 chất dính đặc biệt. Một hộ lý có huấn luyện đặc biệt hoặc bác sĩ chuyên khoa sẽ chỉ cho bệnh nhân cách chăm sóc cho lỗ tiểu nhân tạo.

Một phương pháp mới hơn sử dụng bộ phận của ruột non để làm một túi chứa mới (gọi là nơi dự trữ điều khiển tự nhiên) bên trong thân thể. Nước tiểu tập hợp ở đó và không xả ra túi ngoài. Thay vào đó, bệnh nhân học sử dụng một cái ống (ống đái) đế xả

nước tiểu thông qua một lỗ tiểu nhân tạo. Những phương pháp khác hiện đang được phát triển nối một túi chứa làm từ ruột non tới phần còn lại của niệu đạo. Một túi chứa làm từ ruột non và túi ngoài cơ thể không cần thiết bởi vì nước tiểu ra khỏi cơ thể thông qua niệu đạo. Phẫu thuật cắt bàng quang căn bản gây ra vô sinh cho cả đàn ông lẫn đàn bà.

Phẫu thuật có thể cũng gây ra một số vấn đề tình dục. Trước đây, gần như tất cả đàn ông trở nên bất lực sau phẫu thuật, nhưng những sự cải tiến trong giải phẫu đã có thể ngăn ngừa được ở nhiều người đàn ông. Ở phụ nữ, âm đạo hẹp hơn hoặc ngắn hơn, và sự giao hợp có lẽ khó khăn.

Trong thời gian xạ trị, người bệnh cảm thấy rất mệt mỏi. Người bệnh nên được nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt. Xạ trị vùng bụng dưới có thể làm cho người bệnh buồn nôn, ói, hoặc tiêu chảy.

Thường tránh được những triệu chứng này bằng chế độ ăn uống hợp lý hoặc dùng thuốc. Xạ trị có thể gây ra vô sinh và có thể làm cho giao hợp không thoải mái.

Đối phó với ung thư bàng quang

Chẩn đoán ung thư bàng quang làm thay đổi cuộc sống bệnh nhân và người thân của họ. Những thay đổi này khó kiểm soát. Bệnh nhân, gia đình và bạn bè có những cảm xúc và lo âu khác nhau. Với họ, ung thư có nghĩa là cái chết đã gần kề. Cần có những thông tin và dịch vụ nâng đỡ giúp họ đương đầu những vấn đề này dễ dàng hơn.

Người mang căn bệnh ung thư có thể lo lắng về chăm sóc gia đình, duy trì công việc, và tiếp tục những hoạt động hằng ngày. Bận tâm về những xét nghiệm, điều trị, nhập viện, viện phí. Bác sĩ, y tá, và nhân viên y tế có thể trả lời câu hỏi về điều trị, việc làm, hay vấn đề khác. Gặp gỡ những nhà hoạt động xã hội, giúp khuyên nhủ họ qua đó người bệnh có thể bày tỏ tâm tự của mình. Họ cũng có thể giới thiệu những nơi trợ giúp về phục hồi chức năng, nâng đỡ tinh thần, tài chính, phương tiện vận chuyển, hay chăm sóc tại nhà. 

Bạn bè và gia đình phải biết nâng đỡ ủng hộ tinh thân bệnh nhân. Các bệnh nhân ung thư bàng quang cần được chia sẻ giúp đỡ để đối mặt với bệnh.

Tuy nhiên, cách áp dụng điều trị cho bệnh nhân này thì đúng nhưng không đúng cho bệnh nhân khác, ngay cả khi họ có cùng loại ung thư.

Những bệnh nhân ung thư bàng quang có thế tìm kiếm sự hỗ trợ nào?

Người bị ung thư nên học cách sống sao cho phù hợp với những thay đổi sau khi bị bệnh, từ đó họ mới cảm thấy thoải mái và lạc quan hơn. Gia đình, bạn bè, các tổ chức xã hội hãy giúp đỡ người bị ung thư bằng cách chia sẻ tình cảm, tài chính, vận chuyển, chăm sóc tại nhà…

Nếu bệnh nhân có vấn đề với lỗ tiểu nhân tạo, bác sĩ, y tá, hoặc bác sĩ chuyên khoa tiết niệu có thể giúp đỡ họ. Sự điều chỉnh lỗ tiểu nhân tạo có thể dễ hơn nhiều với lời khuyên và sự hỗ trợ của những người mắc bệnh tương tự.

Một số thông tin bệnh nhân bị ung thư bàng quang nên biết

Nhận ra lỗi gen gây ung thư bàng quang 

Đó là gene E2F3, chịu trách nhiệm sản xuất một protein đặc biệt kích thích các tế bào ung thư bàng quang phát triển. Số lượng của gen này trong mỗi tế bào còn cho biết bệnh đang trong giai đoạn nào.

Trong các tế bào ung thư ở bàng quang có rất nhiều bản sao của E2F3. Số lượng gen này trong mỗi tế bào có liên quan mật thiết với các giai đoạn phát triển bệnh. 

Phát hiện về E2F3 sẽ mở ra một loạt liệu pháp trị ung thư bàng quang mới, với mục tiêu là khống chế loại protein do gen E2F3 sinh ra. Đây cũng sẽ là nền tảng cho những phương pháp chẩn đoán mức độ ác tính của tế bào ung thư và các giai đoạn phát triển bệnh.

Im.BCG – chế phẩm hiệu quả điều trị ung thư bàng quang

Theo Viện vacxin Nha Trang, về lý thuyết Im.BCG được ứng dụng điều trị hỗ trợ miễn dịch đối với tất cả các dạng khối u như: u hắc tố ác tính, u phổi, u tuyến vú, ung thư xương khớp…, nhưng thực tế nó hiệu quả nhất đối với ung thư bàng quang.

Im.BCG được chế tạo từ chủng vi khuẩn của Calmette và Guérin, dưới dạng chế phẩm là vi khuẩn sống đông khô (số lượng vi khuẩn cao gấp nhiều lần vacxin BCG).

Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng dùng Im.BCG bơm vào bàng quang để phối hợp điều trị ung thư bàng quang bề mặt và thể nông là liệu pháp hiệu quả nhất. Liệu pháp này nhằm ba mục đích: ngăn ngừa u tái phát; ngăn chặn u xâm lấn xuống lớp sâu; tiêu diệt phần u còn lại mà không thể cắt hết được.

Ung thư bàng quang thường gặp nhất trong ung thư tiết niệu. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngày nay phương pháp cắt u bằng nội soi qua niệu đạo là phẫu thuật hàng đầu trong điều trị ung thư bàng quang. Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật khá cao, khoảng 53%-90% sau 1-3 năm.

Theo các nhà khoa học, việc dùng liệu pháp tăng cường miễn dịch bằng Im.BCG ở nước ta còn rất mới mẻ. Tuy nhiên, các nhà khoa học chuyên khoa tiết niệu của Việt Nam đều có chung nhận định rằng, để điều trị ung thư bàng quang tại chỗ, dự phòng tái phát sau mổ nội soi, ngăn chặn u phát triển xâm lấn xuống lớp sâu thì Im.BCG là chế phẩm có giá trị nhất.

Súp lơ xanh trị ung thư bàng quang 

Các nhà khoa học Mỹ vừa phân lập thành công một nhóm chất từ súp lơ xanh mà họ tin rằng có khả năng phòng chống và làm chậm tốc độ phát triển của bệnh ung thư bàng quang.

Thành công mới của Đại học Ohio State dựa trên một nghiên cứu cách đây 6 năm giữa trường và Đại học Harvard. Họ phát hiện ra những người ăn từ 2 bữa súp lơ xanh (mỗi lần chừng nửa bát) mỗi tuần có tỉ lệ mắc ung thư bàng quang thấp hơn 44% so với những người ăn không quá 1 bữa/tuần. 

Nhóm nghiên cứu đã phân lập được hợp chất có tên là glucosinolate từ mầm súp lơ xanh. Trong quá trình thái nhỏ, nhai và tiêu hóa, chất này sẽ chuyển thành chất isothiocyanate, được ví như “nhà máy điện dinh dưỡng” của cơ thể có vai trò khống chế ung thư. Trong phòng thí nghiệm, isothiocyanate ngăn cản sự phát triển của các tế bào ung thư bàng quang. Tác dụng ưu việt nhất được ghi nhận trên dạng ung thư nguy hiểm nhất.

Đầu tiên, người ta chiết xuất và xác định hàm lượng glucosinolate từ mầm súp lơ xanh. Sau đó, họ dùng một số enzyme đặc biệt đế chuyển glucosinolate thành isothiocyanate. Nhóm đã thử nghiệm trên hai mẻ tế bào ung thư bàng quang của người và một mẻ của chuột với hàm lượng glucosinolate và isothiocyanate khác nhau. Kết quả cho thấy, glucosinolate không có tác dụng nào lên tế bào ung thư. Trong khi đó, isothiocyanate lại làm giảm sự sinh sôi ở cả 3 mẻ tế bào ung thư. Tác dụng mạnh nhất được ghi nhận trên những tế bào ung thư xâm lấn chuyển tiếp ở người.

Nhóm nghiên cứu đang tìm hiểu nguyên nhân và cách thức tác động của những hợp chất từ súp lơ xanh đối với tế bào ung thư. Ngoài ra, “có ít nhất hàng chục chất có tiềm năng thú vị trong súp lơ xanh”, thành viên nhóm Steven Clinton cho biết.

Bên cạnh súp lơ xanh, những loại rau cùng họ như bắp cải, cải hoa, cải xoăn… cũng sở hữu những chất chống ung thư tương tự.

Uống nhiều nước không ngăn được bệnh ung thư bàng quang

Uống nhiều nước vẫn được xem là cách để ngăn chặn bệnh ung thư bàng quang, nhưng một nghiên cứu mới đây cho thấy rằng những người chữa bệnh ung thư bàng quang theo cách này không làm thuyên giảm được căn bệnh.

Nghiên cứu này được tiến hành trên 267 bệnh nhân được điều trị bệnh ung thư bàng quang nhưng sau đó vẫn bị tái phát lại. Những bệnh nhân này đã hoàn thành bảng thăm dò ý kiến về việc uống nước và tất cả họ đều được theo dõi ít nhất 2 năm sau. Kết quả cho thấy gần một nửa trong số họ đã bị phát khối u trở lại một lần hoặc hơn trong suốt thời gian nghiên cứu.

Mọi người thường nghĩ rằng uống một lượng nước cao có thể ngăn chặn được bệnh ung thư bằng cách làm giảm bớt đi lượng hóa chất gây ung thư trong bàng quang hay sẽ rửa sạch những chất này đi trước khi chúng có thể gây tác động có hại.

Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy rằng mục đích của việc uống nước này không chắc chắn làm giảm đi tần số của việc tái phát khối u ở bệnh nhân đã được chẩn đoán là bị ung thư bàng quang.

Các nhà khoa học Anh và Đan Mạch đã xác định được một phân tử có thể cải thiện điều trị ung thư và giúp người bệnh tránh được những tác động có hại của tia bức xạ trong xạ trị.

Phân tử có tên là MDC1, giúp phát hiện và điều chỉnh tổn thương ADN do tia xạ. Phát hiện này sẽ cải thiện sự hiểu biết về cách đáp ứng của tế bào với tia xạ và những đột biến gây ung thư. MDC1 có tác dụng ngăn cản tế bào phân chia, khi tổn thương ADN chưa được sửa chữa. Do vậy, việc ức chế hoạt động của MDC1 sẽ làm tế bào dễ bị tổn thương gen do tia xạ.

Thuốc phong bế MDC1 có thế làm cho xạ trị liệu hiệu quả hơn, gây phá hủy ADN trong các tế bào ung thư. Tuy nhiên, xạ trị liệu có thể cũng không giết hết các tế bào ung thư, vì thế làm tăng tính mẫn cảm của các tế bào này sẽ ngăn ngừa ung thư tái phát.

Ngược lại, nếu tìm ra phương pháp làm tăng hoạt tính của phân tử sẽ giúp con người tránh được tác động của tia xạ cao trong các tai nạn sự cố hoặc khi bị tấn công hạt nhân.

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply

Y Đức
Logo
Enable registration in settings - general