UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

Cổ tử cung là gì?

Cổ tử cung là phần hẹp, bên dưới của tử cung. Tử cung là một tạng rỗng, hình quả na, nằm ở phần bụng dưới của một phụ nữ, giữa bàng quang và trực tràng. Cổ tử cung hình thành nên một kênh mở vào âm đạo, cơ quan hướng ra bên ngoài cơ thể.

Ung thư cổ tử cung là gì?

Giống như tất cả các cơ quan khác của cơ thế, cổ tử cung được tạo nên bởi nhiều loại tế bào. Bình thường, tế bào phân chia để tạo ra thêm tế bào chỉ khi cơ thể cần chúng. Tiến trình có trật tự này giúp chúng ta khỏe mạnh.

Nếu các tế bào vẫn phân chia thành các tế bào mới khi không cần thiết thì một khối mô sẽ hình thành. Khối mô này, được gọi là một khối u, có thể lành tính hoặc ác tính. 

Các khối u lành không phải là ung thư. Hầu hết các trường hợp, chúng thường có thể được loại bỏ mà không xuất hiện trở lại. Quan trọng nhất, các tế bào từ các u lành không lan đến các phần khác của cơ thể. Các u lành hiếm khi là mối đe dọa cho sự sống. Các polyp, nang và các mụn cóc sinh dục là các kiểu khối u lành của cố tử cung. Các u ác là ung thư. Các tế bào ung thư có thể xâm lấn và phá hủy mô và các cơ quan gần khối u. Các tế bào ung thư cũng có thể tách ra khỏi một khối u ác tính và đi vào hệ bạch huyết hoặc dòng máu. Đây là cách mà ung thư cổ tử cung có thể lan đến các bộ phận khác của cơ thể, như là hạch bạch huyết xung quanh, trực tràng, bàng quang, xương sống và phổi. Sự lan tràn ung thư được gọi là di căn.

Ung thư cổ tử cung cũng có thể được gọi là ung thư cổ. Giống như hầu hết ung thư, nó được đặt tên theo phần của cơ thể mà ở đó nó bắt đầu. Ung thư cổ tử cung khác với ung thư bắt đầu ở các phần khác của tử cung và cũng cần điều trị khác. Loại ung thư thường gặp nhất của tử cung bắt đầu ở nội mạc tử cung, lớp lót cơ quan này. Các ung cung còn được gọi tên theo loại tế bào mà chúng bắt đầu xuất hiện. Hầu hết ung thư cổ tử cung là ung thư biểu mô tế bào vảy. Tế bào vảy là các tế bào mảnh, dẹt tạo nên bề mặt cổ tử cung.

Khi ung thư lan tràn đến các bộ phận khác của cơ thể, khối u mới có cùng loại tế bào bất thường và cùng tên như ung thư gốc (nguyên phát). Chẳng hạn, nếu ung thư cổ tử cung lan tràn đến xương, các tế bào ung thư trong xương là các tế bào cổ tử cung. Bệnh được gọi là ung thư cổ tử cung di căn (không phải là ung thư của xương).

Các tình trạng tiền ung thư và ung thư cổ tử cung

Các tế bào trên bề mặt cổ tử cung thỉnh thoảng trông có vẻ bất thường nhưng không phải là ung thư. Các nhà khoa học tin rằng vài biến đổi bất thường ở các tế bào cổ tử cung là bước đầu tiên trong hàng loạt các biến đổi chậm mà có thể đưa đến ung thư vài năm sau đó. Đó là, vài biến đổi bất thường là tiền ung thư; chúng có thể trở thành ung thư theo thời gian.

Qua nhiều năm, các bác sĩ đã dùng những từ khác nhau để chỉ những biến đổi bất thường ở các tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Một từ hiện bây giờ đang dùng là sang thương nội biểu mô của tế bào vảy (từ sang thương chỉ một vùng mô bất thường; nội biểu mô nghĩa là các tế bào bất thường hiện diện chỉ trong lớp bề mặt của các tế bào). Những  biến đối trong các tế bào này có thể được chia thành hai loại:

“Sang thương nội biểu mô tế bào vảy giai đoạn thấp” chỉ những biến đổi sớm về kích thước, hình dạng và số lượng các tế bào hình thành bề mặt cổ tử cung. Vài sang thương giai đoạn thấp tự biến mất. Tuy nhiên, theo thời gian, những sang thương khác có thể phát triển to hơn hoặc trở nên bất thường hơn, tạo ra sang thương giai đoạn cao. Các  sang thương giai đoạn thấp tiền ung thư còn có thể được gọi là loạn sản nhẹ hoặc tân sản nội biểu mô cổ tử cung giai đoạn 1. Những biến đổi sớm như thế trong cổ tử cung hầu hết thường xuất hiện ở phụ nữ từ 25-35 tuổi nhưng cũng có thể xuất hiện ở các nhóm tuổi khác nữa.

“Sang thương nội biểu mô tế bào vảy giai đoạn cao” nghĩa là có một số lượng lớn các tế bào tiền ung thư; chúng trông rất khác các tế bào bình thường.

Giống như sang thương nội biểu mô tế bào vẩy giai đoạn thấp, những biến đổi tiền ung thư này chỉ liên quan đến các tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Các tế bào sẽ không trở thành ung thư và xâm lấn các lớp sâu hơn của cố tử cung trong nhiều tháng, có thể nhiều năm. Các sang thương giai đoạn cao cũng có thể được gọi là loạn sản trung bình hoặc nặng, hoặc ung thư tại chỗ (carcinoma in situ). Chúng thường xuất hiện ở phụ nữ từ 30-40 tuổi nhưng cũng có thể xuất hiện ở các lứa tuổi khác nữa.

Nếu các tế bào bất thường lan sâu hơn vào trong cổ tử cung hoặc đến những mô hoặc cơ quan khác, khi đó bệnh được gọi là ung thư cổ tử cung, hoặc ung thư cổ tử cung xâm lấn. Hầu hết bệnh thường xuất hiện ở phụ nữ > 40 tuổi.

Sơ lược về ung thư cổ tử cung

Các yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử được xác định. 

Khám khung chậu và làm xét nghiệm Pap đều cung đã đặn có thể phát hiện những biến đối tiền ung thư cổ tử cung. 

Những biến đối tiền ung thư ở cổ tử cung có thể  được điều trị bằng phẫu đông, nhiệt, hoặc phẫu thuật bằng laser.

Triệu chứng thường gặp nhất của ung thư cổ tử cung là ra máu âm đạo bất thường.

Ung thư cổ tử cung có thể được chẩn đoán bằng  việc dùng xét nghiệm Pap hoặc các thủ thuật khác lấy được mẫu mô cổ tử cung.

Ung thư cổ tử cung đòi hỏi điều trị khác với ung thư bắt đầu ở những phần khác của tử cung.

Các tình trạng tiền ung thư được phát hiện như thế nào?

Nếu tất cả phụ nữ được khám khung chậu và làm xét nghiệm Pap đều đặn thì hầu hết các tình trạng tiền ung thư sẽ được phát hiện và điều trị trước khi ung thư xuất hiện. Bằng cách đó, hầu hết ung thư xâm lấn sẽ được ngăn chặn. Bất kỳ ung thư xâm lần nào mà có xuất hiện sẽ có khả năng được phát hiện ở giai đoạn sớm, có thể điều trị được.

Khi khám khung chậu, bác sĩ kiểm tra tử cung, âm đạo, buồng trứng, vòi trứng, bàng quang, trực tràng. Bác sĩ khám các cơ quan này để tìm bất kỳ sự bất thường nào về hành dạng hoặc kích thước của chúng. Một cái panh được dùng để banh rộng âm đạo (còn gọi là mỏ vịt) để bác sĩ có thể thấy được phần trên cùng của âm đạo và cổ tử cung.

Xét nghiệm Pap là một xét nghiệm không đau, đơn giản để phát hiện các tế bào bất thường trong và quanh cổ tử cung. Chị em phụ nữ nên làm xét nghiệm này lúc không có kinh; thời điểm tốt nhất là từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 20 sau ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt. Khoảng 2 ngày trước khi làm xét nghiệm Pap, nên tránh thụt rửa, hoặc dùng bọt, kem, hoặc gel diệt tinh trùng, hoặc thuốc đặt âm đạo (trừ khi có hướng dẫn của bác sĩ), chúng có thể rửa trôi hoặc che giấu mất các tế bào bất thường.

Xét nghiệm Pap có thế được thực hiện ở phòng khám. Một que nạo bằng gỗ (spatula) và một bàn chải nhỏ được dùng để thu thập một mẫu tế bào từ cổ tử cung và phần âm đạo trên cùng. Các tế bào được đặt trên một bảng kính và được gửi đến một phòng xét nghiệm y khoa để được kiểm tra sự biến đổi bất thường.

Cách mô tả các kết quả của xét nghiệm Pap đang thay đổi. Phương pháp mới nhất là hệ thống Bethesda.

Những biến đổi được mô tả như là sang thương trong biểu mô giai đoạn thấp hoặc cao. Nhiều bác sĩ tin rằng hệ thống Bethesda cung cấp nhiều thông tin hữu ích hơn một hệ thống cũ, nó sử dụng các số thay đổi từ nhóm một đến nhóm năm. (Trong nhóm một, các tế bào trong mẫu bình thường, trong khi nhóm năm ám chí ung thư xâm lấn) phụ nữ nên yêu cầu bác sĩ của mình giải thích hệ thống được dùng cho xét nghiệm Pap.

Phụ nữ nên được kiểm tra đều đặn, bao gồm khám khung chậu và xét nghiệm Pap, nếu bạn đang hay đã từng có quan hệ tình dục. Những người có nguy cơ xuất hiện ung thư cổ tử cung nên đặc biệt cẩn thận tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ về việc kiểm tra. Phụ nữ đã cắt tử cung toàn phần (phẫu thuật cắt bỏ tử cung, bao gồm cả cổ tử cung) nên tham vấn bác sĩ của mình về việc khám khung chậu và xét nghiệm Pap.

Yếu tố nguy cơ và phương pháp phòng ngừa 

Bằng việc nghiên cứu ở một số lượng lớn phụ nữ khắp thế giới, các nhà nghiên cứu đã nhận ra các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng để các tế bào trong cổ tử cung trở nên bất thường hoặc ung thư.

Họ tin rằng, ở nhiều trường hợp, ung thư cổ tử cung xuất hiện khi có bằng hoặc hơn hai yếu tố nguy cơ tác động với nhau.

Nghiên cứu đã chứng tỏ rằng những phụ nữ có quan hệ tình dục trước 18 tuổi và những phụ nữ mà có nhiều bạn tình thì nguy cơ xuất hiện ung thư cổ tử cung cũng tăng lên. Phụ nữ cũng có nguy cơ ung thư tăng nếu bạn tình của họ bắt đầu quan hệ tình dục lúc trẻ tuổi, đã từng có nhiều bạn tình, hoặc đã từng kết hôn với một phụ nữ đã bị ung thư cổ tử cung. Các nhà khoa học không biết chính xác tại sao các hoạt động tình dục của phụ nữ và các bạn tình của họ ảnh hưởng đến nguy cơ xuất hiện ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, nghiên cứu gợi ý rằng vài virus lây truyền qua đường tình dục có thể làm các tế bào trong cổ tử cung bắt đầu biến đối hàng loạt có thể đưa đến ung thư. Các phụ nữ đã từng có nhiều bạn tình hoặc bạn tình của họ đã từng có nhiều bạn tình thì có thể có nguy cơ ung thư cổ tử cung tăng, ít  nhất một phần vì họ có nhiều khả năng bị nhiễm virus lây truyền qua đường tình dục hơn.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu ảnh hưởng của virus u nhú ở người (human papillomaviruses – HPV) lây truyền qua đường tình dục. Vài HPV lây truyền qua đường tình dục gây ra mụn cóc sinh dục (bệnh mào gà). Hơn nữa, các nhà khoa học tin rằng vài loại trong số những virus này có thể gây ra sự phát triển các tế bào bất thường trong cổ tử cung và có thể đóng vai trò trong sự xuất hiện ung thư. Họ thấy rằng, những phụ nữ có HPV hoặc bạn tình của họ có HPV có nguy cơ cao hơn trung bình xuất hiện ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, hầu hết phụ nữ bị nhiễm HPV không xuất hiện ung thư cổ tử cung, và virus không hiện diện ở tất cả phụ nữ có bệnh này. 

Vì những lý do này, các nhà khoa học tin rằng có các yếu tố khác tác động cùng với HPV. Chẳng hạn, virus herpes sinh dục có thể đóng một vai trò nhất định. Nghiên cứu thêm cần được thực hiện để biết được vai trò chính xác của những virus này và tại cao chúng tác động với những yếu tố khác trong việc phát triển ung thư cổ tử cung.

Hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. Nguy cơ dường như tăng cùng với số lượng thuốc một phụ nữ hút mỗi ngày và với số năm hút thuốc.

Những phụ nữ có mẹ đã dùng thuốc diethyl-ant stilbestrol (DES) trong suốt thai kỳ để ngừa sảy tăng thai cũng có nguy cơ tăng ung thư sau này. (Thuốc này được dùng vì mục đích này từ khoảng năm 1940 – 1970) một kiểu ung thư âm đạo và cổ tử cung hiếm đã từng được thấy ở một số nhỏ phụ nữ mà mẹ họ đã dùng DES.

Vài báo cáo gợi ý rằng những phụ nữ mà hệ thống miễn dịch của họ suy yếu thì dễ xuất hiện ung thư cổ tử cung hơn những người khác. Chẳng hạn, những phụ nữ bị nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), virus gây ra AIDS, thì có nguy cơ tăng. Cũng như thế, những bệnh nhân ghép tạng, người dùng thuốc ức chế hệ miễn dịch để ngăn chặn sự thải ghép cơ quan mới, thì có nhiều khả năng xuất hiện các sang thương tiền ung thư hơn những người khác.

Vài nhà nghiên cứu tin rằng tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở những phụ nữ dùng viên ngừa thai uống. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã không thấy rằng viên ngừa thai gây ung thư cổ tử cung một cách trực tiếp. Mối quan hệ này thật khó chứng minh bởi vì hai yếu tố nguy cơ chính của ung thư cổ tử cung là giao hợp lúc trẻ tuổi và nhiều  bạn tình, có thể phổ biến trong số những phụ nữ sử dụng viên ngừa thai hơn là trong số những phụ nữ không dùng. Tuy nhiên, các nhãn thuốc ngừa thai uống có cảnh báo về nguy cơ này và khuyên những phụ nữ sử dụng chúng nên làm xét nghiệm Pap mỗi năm.

Vài nghiên cứu đã chứng tỏ rằng Vitamin A đóng một vai trò trong việc chặn đứng và ngăn ngừa các biến đổi ung thư trong tế bào như những biến đổi trên bề mặt cổ tử  cung. Nghiên cứu thêm với các dạng vitamin A có thể giúp các nhà khoa học biết thêm về khả năng ngăn chặn ung thư cổ tử cung của vitamin A.

Hiện tại, phát hiện sớm và điều trị các mô tiền ung thư vẫn là cách hiệu quả nhất của việc ngăn chặn ung thư cổ tử cung. Phụ nữ nên nói chuyện với bác sĩ của mình về một kế hoạch kiểm tra thích hợp. Lời khuyên của bác sĩ sẽ dựa trên những yếu tố như: tuổi, tiền căn sức khỏe, và các yếu tố nguy cơ. 

Các triệu chứng của ung thư cổ tử cung là gì?

Các biến đổi tiền ung thư của cổ tử cung thường không gây đau. Quả thực, chúng thường không gây bất kỳ triệu chứng gì và không được phát hiện trừ khi người phụ nữ được khám khung chậu và làm xét nghiệm Pap.

Các triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khi các tế bào cổ tử cung bất thường trở thành ung thư và xâm lấn mô lân cận. Khi điều này xảy ra, triệu chứng thường gặp nhất là chảy máu bất thường.

Chảy máu có thế bắt đầu và dừng giữa các kỳ kinh đều đặn, hoặc nó có thể xuất hiện sau khi giao hợp, thụt rửa hoặc khám khung chậu. Ra máu kinh có thể kéo dài hơn và nặng hơn thông thường. Việc chảy máu sau mãn kinh cũng có thể là một triệu chứng của ung thư cổ tử cung. Chất tiết âm đạo tăng lên là một triệu chứng khác của ung thư cổ tử cung.

Những triệu chứng này có thể do ung thư cổ tử cung hoặc do những rối loạn sức khỏe khác. Điều rất quan trọng là bạn cần phải gặp bác sĩ của mình nếu như bạn đang có bất kỳ triệu chứng nào trong số những triệu chứng này.

Các giai đoạn ung thư cổ tử cung

Lựa chọn điều trị cho ung thư cổ tử cung phụ thuộc vào vị trí và kích thước khối u, giai đoạn của bệnh, tuổi và tình trạng sức khỏe chung của phụ nữ, và các yếu tố khác.

Việc xếp giai đoạn là một nỗ lực cẩn thận để tìm ra ung thư đã lan tràn hay chưa và nếu như thế, bộ phận nào của cơ thể bị ảnh hưởng. Các xét nghiệm máu và nước tiểu thường được thực hiện. Bác sĩ cũng có thể thực hiện khám khung chậu cẩn thận trong phòng mổ với bệnh nhân được gây tê. Trong suốt cuộc khám này, bác sĩ cũng có thể thực hiện các thủ thuật được gọi là nội soi bàng quang và nội soi trực tràng đại tràng sigma. Khi nội soi bàng quang, bác sĩ nhìn vào trong bàng quang bằng một dụng cụ mỏng, được chiếu sáng.

Nội soi trực tràng đại tràng sigma là một thủ thuật cũng dùng dụng cụ chiếu sáng để kiểm tra trực tràng và phần thấp của đại tràng. Vì ung thư cổ tử cung có thể lan tràn đến bàng quang, trực tràng, hạch bạch huyết, hoặc phổi, bác sĩ có thể chỉ định chụp X quang thận và bàng quang hàng loạt, cũng có thể còn gọi là chụp bể thận qua đường tĩnh mạch. Đại tràng và trực tràng có thể được kiểm tra bằng cách dùng barium thụt tháo. Để tìm các hạch bạch huyết có thể phì đại vì chúng chứa các tế bào ung thư, bác sĩ có thế chỉ định CT scan, hàng loạt ảnh X quang đặt cùng nhau bởi 1 máy vi tính để tạo hình chi tiết những vùng bên trong cơ thể. Những thủ thuật khác có thể được dùng để kiểm tra các cơ quan bên trong cơ thể là siêu âm và chụp cộng hưởng từ nhân (MRI). 

Chuẩn bị điều trị

Hầu hết phụ nữ bị ung thư cổ tử cung muốn biết tất cả (nếu có thể) về bệnh tật của họ và các lựa chọn điều trị để họ có thể chủ động tham gia trong việc quyết định về chăm sóc sức khỏe của mình.  Các y, bác sĩ có thể giúp họ nhận thức rõ những điều họ muốn biết.

Khi một người được chẩn đoán bị ung thư, sốc và căng thẳng là những phản ứng tự nhiên. Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân có rất nhiều lo lắng, thắc mắc cần hỏi y, bác sĩ. Hơn ai hết, các y, bác sĩ là người có thế đưa ra những lời khuyên hữu ích và những lời động viên chân thành đế giúp họ yên tâm điều trị.

Các tình trạng tiền ung thư cổ tử cung được điều trị như thế nào?

Điều trị sang thương tiền ung thư cổ tử cung phụ thuộc vào một số yếu tố. Những yếu tố này bao gồm: sang thương là giai đoạn thấp hay cao, phụ nữ có muốn có con trong tương lai không, tuổi và tình trạng sức khỏe chung của họ và các yếu tố khác.

Một phụ nữ với sang thương giai đoạn thấp có thể không cần điều trị thêm, đặc biệt nếu vùng bất thường được lấy bỏ hoàn toàn trong khi sinh thiết.

Tuy nhiên, người bệnh nên làm xét nghiệm pháp và khám khung chậu đều đặn. Khi một sang thương tiền ung thư cần điều trị, bác sĩ có thể dùng phẫu đông, nhiệt hoặc phẫu thuật bằng laser để phá hủy vùng bất thường mà không làm tổn hại mô lành mạnh lân cận. Bác sĩ có thể lấy bỏ mô bất thường bằng LEEP hoặc sinh thiết dạng hình nón. Điều trị các sang thương tiền ung thư có thể gây ra đau co thắt hoặc các dạng đau khác, chảy máu hoặc tiết dịch.

Vài trường hợp, phụ nữ có thể bị cắt bỏ toàn bộ tử cung, đặc biệt nếu các tế bào bất thường được thấy bên trong lỗ cổ tử cung. Phẫu thuật này có nhiều khả năng thực hiện hơn khi phụ nữ không muốn có con trong tương lai.

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung

Khám khung chậu và xét nghiệm Pap cho phép bác sĩ phát hiện những biến đổi bất thường ở cổ tử cung. Nếu kết quả chứng tỏ rằng một nhiễm trùng đang hiện diện, khi đó, nhiễm trùng được điều trị và xét nghiệm Pap được lặp lại trong một thời gian sau. Nếu khám hoặc xét nghiệm Pap gợi ý những thứ khác hơn là nhiễm trùng, bác sĩ có thể lặp lại xét nghiệm Pap và làm các xét nghiệm khác để tìm ra xem có bị rối loạn gì không.

Soi cổ tử cung là một phương pháp được dùng rộng rãi để kiểm tra cổ tử cung cho những vùng bất thường. Bác sĩ bôi một dung dịch giống như dấm lên cổ tử cung và sau đó dùng một dụng cụ rất giống một kính hiển vi (được gọi là máy soi cổ tử cung) để quan sát kỹ cố tử cung. Sau đó bác sĩ có thể phủ cổ tử cung với dung dịch iod (một thủ thuật được gọi là thử nghiệm Schiller). Các tế bào lành mạnh đổi sang màu nâu; các tế bào bất thường đổi sang trắng hoặc vàng.

Bác sĩ có thể lấy ra một số lượng nhỏ mô cổ tử cung để đánh giá bởi một nhà bệnh lý học. Tiến trình này được gọi là sinh thiết. Trong một kiểu sinh thiết, bác sĩ dùng một dụng cụ để gắp ra vài mảnh nhỏ mô cổ tử cung. Phương pháp khác được dùng để làm sinh thiết gọi là thủ thuật cắt bằng dao điện. Trong thủ thuật này, bác sĩ dùng một vòng dây điện để cắt lát một mảnh mô tròn, mỏng.

Các kiểu sinh thiết này có thể được thực hiện ở cơ sở y tế có dùng gây tê tại chỗ.

Những thủ thuật cho việc lấy mô này có thể gây chảy máu hoặc tiết dịch khác. Tuy nhiên, vết thương thường lành một cách nhanh chóng. Phụ nữ cũng thường có cảm giác đau tương tự như đau bụng kinh, triệu chứng này có thể được làm giảm bằng thuốc.

Làm các xét nghiệm là việc vô cùng cần thiết để chẩn đoán bệnh và xác định hướng điều trị. Các xét nghiệm này có thể không chứng tỏ chắc chắn có hay không các tế bào bất thường hiện diện trên bề mặt cổ tử cung. Trong trường hợp đó, bác sĩ sẽ lấy mẫu mô hình nón, lớn hơn. Thủ thuật này được gọi là sinh thiết dạng hình nón (khoét chóp cổ tử cung) Cho phép nhà bệnh lý học xem các tế bào bất thường đã xâm lấn mô bên dưới bề mặt cổ tử cung hay chưa. Sinh thiết mẫu hình nón (khoét chóp) cũng có thể được dùng như là một biện pháp điều trị cho sang thương tiền ung thư và toàn bộ vùng bất thường này có thể được cắt bỏ. Thủ thuật này đòi hỏi hoặc gây tê tại chỗ hoặc gây mê và có thể được thực hiện ở phòng mạch bác sĩ hoặc ở bệnh viện.

Trong một vài trường hợp, xét nghiệm Pap cho kết quả bất thường không rõ ràng hoặc các triệu chứng của phụ nữ là do những rối loạn ở cổ tử cung hay là do ở nội mạc tử cung (lớp lót tử cung). Trong tình huống này, bác sĩ có thể thực hiện nong và nạo (D & C). Bác sĩ làm giãn lỗ cổ tử cung và dùng một cái nạo để cào mô từ lớp lót tử cung cũng như từ kênh cổ tử cung. Giống như sinh thiết mẫu dạng nón (khoét chóp), thủ thuật này cần gây tê tại chỗ hoặc gây mê.

Các phương pháp điều trị

Thường nhất, điều trị ung thư cổ tử cung liên quan đến phẫu thuật và xạ trị. Thỉnh thoảng, hóa trị hoặc trị bằng sinh học được dùng. Bệnh nhân thường được điều trị bởi một đội ngũ các chuyên gia, đội ngũ này có thể gồm các nhà phụ khoa và ung thư học phóng xạ. Một phương pháp điều trị hoặc sự kết hợp các phương pháp có thể được dùng.

Phẫu thuật là trị liệu tại chỗ để loại bỏ mô bất thường ở trong hoặc gần cổ tử cung. Nếu ung thư chỉ ở trên bề mặt cổ tử cung, bác sĩ có thể phá hủy các tế bào ung thư bằng các cách tương tự với những phương pháp được dùng để điều trị sang thương tiền ung thư. Nếu bệnh đã xâm lấn các lớp sâu hơn của cổ tử cung, nhưng không lan tràn quá cổ tử cung, bác sĩ có thể thực hiện một phẫu thuật để loại bỏ khối u nhưng chừa lại tử cung và buồng trứng. Tuy nhiên, ở những ca khác, phụ nữ có thể cần phải cắt toàn bộ tử cung hoặc có thể chọn phẫu thuật này, đặc biệt nếu cô ta không dự định có con trong tương lai. Trong tiến trình này, bác sĩ lấy bỏ toàn bộ tử cung, bao gồm cổ tử cung. Thỉnh thoảng, buồng trứng và vòi trứng cũng có thể bị loại bỏ. Hơn nữa, hạch bạch huyết gần tử cung có thể được loại bỏ và các tế bào được khảo sát để biết ung thư có lan tràn đến những cơ quan này hay không.

Điều trị bằng tia xạ (còn gọi là xạ trị) dùng các tia năng lượng cao để phá hủy các tế bào ung thư và ngăn chặn chúng khỏi phát triển. Giống như phẫu thuật, xạ trị là điều trị tại chỗ; tia xạ có thể ảnh hưởng lên các tế bào ung thư chỉ trong vùng được điều trị. Tia xa có thể phát ra từ một máy lớn (xạ ngoài) hoặc từ các chất phóng xạ được đặt trực tiếp vào cổ tử cung (cấy xạ). Vài bệnh nhân nhận cả hai kiểu xạ trị này.

Một phụ nữ được xạ trị ngoài thì đến phòng khám hoặc bệnh viện mỗi ngày để điều trị. Thường thường, điều trị được cho 5 ngày trong 1 tuần trong 5-6 tuần. Cuối thời điểm này, khối u thêm xạ “tăng cường”. 

Đối với xạ trɔng hoặc cấy, một viên nang chứa chất phóng xạ được đặt trực tiếp vào cổ tử cung. Mảnh cấy được đặt trực tiếp vào khối mô ung thư để diệt các tế bào ung thư, trong khi không ảnh hưởng hầu hết mô lành mạnh quanh nó. Xạ trị cấy thường được để tại chỗ trong vòng 1-3 ngày, và điều trị có thể được lặp lại vài lần qua 1 hành trình 1-2 tuần. Bệnh nhân nằm lại bệnh viện trong khi các mảnh cấy đang được đặt.

Hóa trị liệu là dùng thuốc để diệt tế bào ung thư. Nó rất thường được dùng khi ung thư cổ tử cung đã lan tràn đến những bộ phận khác của cơ thể. Bác sĩ có thể dùng chỉ một thuốc hoặc kết hợp với thuốc. Các thuốc kháng ung thư được dùng để điều trị ung thư cổ tử cung có thể được dùng bằng cách tiêm tĩnh mạch hoặc bằng đường uống. Cả hai cách, hoá trị là điều trị toàn thân, nghĩa là các thuốc đi khắp cơ thế trong dòng máu.

Hoá trị được cho theo chu kỳ; một đợt điều trị được theo sau bởi một đợt hồi phục, sau đó là một đợt điều trị khác, và cứ như thế. Hầu hết bệnh nhân được hóa trị ngoại trú (tại bệnh viện, tại phòng mạch bác sĩ, hoặc tại nhà). Tuy nhiên, tùy thuộc vào thuốc nào được cho và tình trạng sức khỏe chung của phụ nữ, bệnh nhân có thể nằm lại bệnh viện trong suốt đợt điều trị.

Trị liệu sinh học là điều trị dùng các chất để cải thiện hệ miễn dịch của cơ thế. Nó có thể được dùng để điều trị ung thư lan tràn từ cố tử cung đến những bộ phận khác của cơ thể. Interferon là đang trị liệu sinh học thường dùng nhất cho bệnh này. Nó có thể được dùng phối hợp với hóa trị. Hầu hết bệnh nhân dùng interferon được điều trị ngoại trú.

Các thử nghiệm lâm sàng

Vài phụ nữ bị ung thư cổ tử cung được điều trị trong các thử nghiệm lâm sàng. Các bác sĩ thực hiện các thử nghiệm lâm sàng để tìm xem có cách điều trị mới vừa an toàn vừa hiệu quả hay không và để trả lời các thắc mắc khoa học. Một số bệnh nhân có thể nhận điều trị mới trong khi những người khác nhận cách tiếp cận chuẩn. Bằng cách này, bác

sĩ có thể so sánh những trị liệu khác nhau này. 

Những bệnh nhân tham gia trong thử nghiệm đóng góp quan trọng vào khoa học sức khỏe và có thể là cơ hội đầu tiên để hưởng lợi từ các phương pháp điều trị được cải thiện này.

Các thử nghiệm lâm sàng về điều trị mới cho ung thư cổ tử cung đang được tiến hành. Bác sĩ đang nghiên cứu cách và kế hoạch xạ trị mới. Họ cũng đang tìm những thuốc mới, cách phối hợp thuốc, và những cách phối hợp các kiểu điều trị khác nhau.

Để có thêm thông tin chi tiết, bệnh nhân có thể đến bệnh viện chuyên khoa ung thư.

Tác dụng phụ của điều trị ung thư cổ tử cung là gì?

Thật khó để hạn chế các ảnh hưởng của điều trị để chỉ có tế bào ung thư được loại bỏ hoặc phá hủy. Bởi vì điều trị cũng có thế phá hủy các tế bào và mô lành mạnh, nó thường gây ra các tác dụng phụ khó chịu.

Các tác dụng phụ của điều trị ung thư phụ thuộc chủ yếu vào kiểu và phạm vi điều trị. Hơn nữa, tác dụng phụ ở mỗi bệnh nhân mỗi khác. Những bệnh nhân ăn uống khỏe thường cảm thấy tốt hơn và nhiều sinh lực hơn. Hơn nữa, họ có thể có khả năng tốt hơn để chịu đựng các tác dụng phụ của điều trị. Việc ăn uống khỏe trong quá trình điều trị ung thư nghĩa là lấy đầy đủ năng lượng và protein đế ngăn chặn sụt cân và đế lấy lại sức mạnh. Các bác sĩ và điều dưỡng có thể giải thích những tác dụng phụ có thể có của điều trị, và họ có thể giúp làm giảm triệu chứng có thể xuất hiện trong suốt và sau điều trị. Khi có bất kỳ tác dụng phụ nào bạn nên báo cho bác sĩ biết để có hướng giải quyết.

Phẫu thuật 

Các phương pháp loại bỏ hoặc phá hủy các ung thư nhỏ trên bề mặt cổ tử cung tương tự với những phương pháp được dùng để điều trị các sang thương tiền ung thư. Điều trị có thế gây ra đau co thắt hay các dạng đau khác, chảy máu hoặc tiết dịch.

Cắt toàn bộ tử cung là một phẫu thuật lớn. Trong vài ngày sau phẫu thuật, phụ nữ có thể đau vùng bụng dưới, nó có thể được kiểm soát bằng thuốc. Một phụ nữ có thể đi tiểu khó và có thể cần phải đặt 1 catheter vào bàng quang để dẫn lưu nước tiểu trong vài ngày sau phẫu thuật hoặc có thể có rắc rối khi đi cầu. Trong một thời gian sau phẫu thuật, các hoạt động của phụ nữ nên được hạn chế để nhằm mau lành bệnh. Các hoạt động bình thường, bao gồm quan hệ tình dục, thường có thể được phục hồi lại trong vòng 4-8 tuần lễ.

Ở những phụ nữ bị cắt bỏ tử cung sẽ không còn kinh nguyệt nữa. Tuy nhiên, ham muốn tình dục và khả năng quan hệ tình dục thường không bị ảnh hưởng bởi việc cắt toàn bộ tử cung. Mặt khác, nhiều phụ nữ có thời gian gặp khó khăn về mặt xúc cảm sau phẫu thuật này. Quan điểm về tình dục của chính họ có thể thay đổi, và họ có thể cảm thấy mất hứng thú bởi vì họ không còn khả năng có con nữa. Phụ nữ có thể muốn bàn luận vấn đề này với bác sĩ, y tá, nhân viên tự vấn.

Xạ trị

Bệnh nhân có thể trở nên rất mệt mỏi trong khi xạ trị, đặc biệt ở những tuần điều trị cuối. Nghỉ ngơi là quan trọng, nhưng bác sĩ thường khuyên bệnh nhân cố gắng hoạt động đến mức họ có thể.

Đối với xạ trị ngoài, thường bị rụng tóc ở những vùng được trị và da trở nên đỏ, khô, đau, và ngứa. Vùng da điều trị có thể đen hoặc “xạm như đồng” vĩnh viễn. Vùng này nên cho tiếp xúc với không khí khi có thể nhưng phải tránh nắng, và bệnh nhân nên tránh mặc quần áo gây cọ xát vùng này. Người bệnh không nên dùng bất kỳ thuốc rửa hoặc loại kem nào trên da họ khi không có sự kiểm tra của bác sĩ.

Thông thường, phụ nữ được yêu cầu không quan hệ tình dục trong suốt đợt hóa trị hoặc trong khi đang đặt mảnh cấy. Tuy nhiên, hầu hết phụ nữ có thể có quan hệ tình dục trong vòng vài tuần sau khi điều trị kết thúc. Sau khi xạ trị, âm đạo thỉnh thoảng trở nên hẹp và ít co giãn hơn, và giao hợp có thể bị đau.

Bệnh nhân có thể được hướng dẫn cách dùng dụng cụ làm giãn cũng như chất bôi trơn dạng nước để giúp giảm thiểu những rắc rối này. Những bệnh nhân được xạ trị ngoài hoặc trong cũng có thể bị tiêu chảy và đi tiểu lắt nhắt, tiểu khó. Thuốc có thể giúp kiểm soát những vấn đề này.

Hóa trị

Các tác dụng phụ của hóa trị chủ yếu phụ thuộc vào thuốc và liều lượng mà bệnh nhân dùng. Hơn nữa, như với những kiếu điều trị khác, tác dụng phụ khác nhau thay đổi tùy theo người. Nói chung, các thuốc kháng ung thư ảnh hưởng tới những tế bào phân chia nhanh. Những tế bào này bao gồm tế bào máu, tế bào chống lại sự nhiễm trùng, giúp đông máu, hoặc mang oxy đến các bộ phận khác của cơ thể. Khi các tế bào máu bị ảnh hưởng bởi thuốc kháng ung thư, bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng hơn, có thể dễ bầm máu hoặc chảy máu, và có thể kém sinh lực hơn. Các tế bào ở chân tóc và các tế bào lót đường tiêu hóa cũng phân chia một cách nhanh chóng. Khi hóa trị ảnh hưởng tới những tế bào này, bệnh nhân có thế bị rụng tóc và các tác dụng phụ khác, như biếng ăn, buồn nôn, nôn, hoặc viêm họng. Thuốc có thể làm giảm các tác dụng phụ này. Các tác dụng phụ biến mất từ từ trong suốt các giai đoạn phục hồi giữa những đợt điều trị hoặc sau khi điều trị hoàn thành.

Trị liệu sinh học 

Các tác dụng phụ do điều trị sinh học khác nhau tùy theo kiểu điều trị mà bệnh nhân nhận được. Những điều trị này có thể gây ra triệu chứng giống cảm như ớn lạnh, sốt, đau cơ, mệt mỏi, biếng ăn, buồn nôn, nôn và tiêu chảy. Thỉnh thoảng, bệnh nhân xuất hiện mẩn đỏ, và họ có thể dễ bị chảy máu hoặc bầm tím. Những rối loạn này có thể trầm trọng, nhưng chúng từ từ biến mất sau khi ngưng điều trị.

Điều gì xảy ra sau khi điều trị ung thư cổ tử cung?

Theo dõi bằng thăm khám đều đặn; bao gồm khám khung chậu, xét nghiệm Pap, và các xét nghiệm khác, rất quan trọng cho bất kỳ phụ nữ nào đã được điều trị các biến đối tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung. Phụ nữ nên làm các xét nghiệm và khám thường xuyên trong vài năm đế bác sĩ có thể kiểm tra bất kỳ dấu hiệu nào khi bệnh quay trở lại.

Điều trị ung thư có thế gây ra các tác dụng phụ nhiều năm sau đó. Vì lý do này, bệnh nhân nên tiếp tục được theo dõi đều đặn và nên thông báo bất kỳ vấn đề sức khỏe nào khi chúng xuất hiện.

Việc sống chung với một căn bệnh nghiêm trọng không dễ dàng chút nào. Những bệnh nhân bị ung thư và những người chăm sóc họ đối diện với nhiều vấn đề và thách thức. Việc đương đầu với những vấn đề này thường dễ dàng hơn khi người ta có thông tin và những dịch vụ hỗ trợ hữu ích.

Các bệnh nhân ung thư có thể lo lắng liệu mình có tiếp tục được công việc trước đây hay không, việc chăm sóc gia đình họ, hoặc việc duy trì các hoạt động hàng ngày. Những lo lắng về xét nghiệm, điều trị, nằm viện, và chi phí điều trị là thường gặp. Bác sĩ, điều dưỡng, và các thành viên khác của đội ngũ chăm sóc sức khỏe có thể giải đáp những thắc mắc về điều trị, công việc, hoặc những hoạt động khác.

Tương tự, việc gặp 1 nhân viên xã hội, nhà tư vấn có thể hữu ích cho bệnh nhân mà muốn nói về cảm giác của họ hoặc muốn bàn luận về các mối quan tâm của họ. Bạn bè và thân nhân là những nguồn hỗ trợ lớn. 

Cũng như vậy, nhiều bệnh nhân thấy hữu ích khi bàn luận những mối quan tâm của họ với những người khác bị ung thư. Các bệnh nhân bị ung thư thường đến với nhau trong các nhóm hỗ trợ, nơi mà họ có thể chia sẻ những điều họ đã học được về việc đương đầu với ung thư và các ảnh hưởng của điều trị. Tuy nhiên, phương pháp điều trị và cách giải quyết ung thư tốt cho người này nhưng có thể không đúng cho người khác, dù rằng cả hai có cùng một loại ung thư.

Tương lai cho những bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung ra sao?

Những phụ nữ có biến đổi tiền ung thư ở cổ tử cung hoặc ung thư cổ tử cung được phát hiện và điều trị rất sớm thì có thể điều trị khỏi được. Các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục tìm các cách mới và tốt hơn để điều trị ung thư cổ tử cung xâm lấn.

Bệnh nhân và người nhà cần nhớ rằng các thống kê là trị số trung bình dựa trên các số lượng lớn bệnh nhân. Chúng không thể được dùng để tiên đoán điều gì sẽ xảy ra cho một phụ nữ cụ thế bởi vì không có hai bệnh nhân nào là giống nhau. Bác sĩ chăm sóc bệnh nhân và nắm rõ bệnh sử của họ là người có thể đưa ra những dự kiến khá chính xác về tiến triển bệnh và sự hồi phục.

Bác sĩ thường nói một cách dè dặt là bệnh có thể cải thiện chứ không bao giờ nói là trị hết bệnh, vì ung thư có thế tái phát và ung thư hiện chưa có thuốc chữa.

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply

Y Đức
Logo
Enable registration in settings - general