UNG THƯ NÃO

Khối u nguy hiểm

U não là loại u thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn, chiếm khoảng 20% các u nguyên phát (tức là u do những tế bào phát triển bất bình thường ngay tại chỗ, chứ không phải do di căn của ung thư từ những phần khác trên cơ thể như ở người lớn). Đây là nguyên nhân gây tử vong nhiều thứ hai trong các loại ung thư ở trẻ em (chỉ sau ung thư máu). U não có đặc điểm là phát triển rất nhanh, có khi chỉ trong vòng sáu tháng đến một năm từ khi xuất hiện các triệu chứng. Nếu không can thiệp sớm, bệnh này có thể dẫn đến tử vong. Đặc biệt, không ít trường hợp dù phát hiện ra khối u nhưng các bác sĩ cũng đành bó tay vì khối u đó ở vị trí không thể mổ được…

U màng não phát triển từ các tế bào ở lớp màng nhện của màng não; 90% là u lành tính. U màng não có triệu chứng có tần suất mới mắc khoảng 2/100 000 người và chiếm khoảng 20% tổng số u nội sọ nguyên phát. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất của u màng não nội sọ có triệu chứng là co giật từng ổ hoặc co giật toàn thân hoặc liệt nặng dần. Tuy nhiên, phần lớn u màng não đều không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ khi thăm dò hình ảnh hệ thần kinh hoặc khi khám nghiệm tử thi, với tỉ lệ mắc bệnh là 1%-2%.

U màng não không triệu chứng có thể được cắt bỏ hoặc theo dõi. Một số nghiên cứu cho thấy rằng khối u thường tiến triển âm thầm và hầu hết bệnh nhân có u màng não được phát hiện một cách tình cờ có thể được theo dõi cho tới khi khối u to lên đáng kể hoặc xuất hiện triệu chứng.

Trong một nghiên cứu có 60 bệnh nhân bị u màng não không triệu chứng, không một trường hợp nào xuất hiện triệu chứng sau thời gian theo dõi trung bình 32 tháng. 45 bệnh nhân được chụp phim theo dõi định kỳ (ba tháng, 9 tháng, và sau đó định kỳ từ 1 đến 2 năm 1 lần). Trong thời gian theo dõi, 10 bệnh nhân có đường kính khối u tăng lên từ 0.2cm sau 180 tháng tới 1cm sau 12 tháng; 35 bệnh nhân không bị tăng kích thước khối u.

Một nghiên cứu hồi cứu đánh giá 35 bệnh nhân u màng não được chẩn đoán tình cờ bằng thăm dò hình ảnh hệ thần kinh và được theo dõi trong thời gian trung bình 74 tháng. Trong thời gian này, 4 trường hợp có tăng kích thước khối u và một trường hợp xuất hiện triệu chứng.

Như vậy, thái độ xử trí u màng não không triệu chứng hợp lý là theo dõi trong nhiều tháng và sau đó đánh giá lại biểu hiện sinh học của khối u trước khi đưa ra quyết định điều trị cuối cùng. Điều này cũng phù hợp với nhận xét là nhiều khối u màng não tiến triển chậm và tình cờ được phát hiện khi khám nghiệm tử thi. Không cần chỉ định sử dụng thuốc chống co giật dự phòng cho những bệnh nhân không có tiền sử bị co giật. Theo khuyến cáo của Viện Thần kinh Mỹ, việc sử dụng thuốc chống co giật dự phòng cho bệnh nhân u não nói chung và u màng não nói riêng không làm thay đổi tần suất của các cơn co giật về sau. Thêm vào đó, tần suất gặp tác dụng phụ do dùng thuốc chống co giật là 20%-40%, cao hơn tần suất ghi nhận được ở những người không có u não. Như vậy không nên sử dụng thuốc chống co giật dự phòng cho bệnh nhân có u não mới được chẩn đoán.

Những khối u có triệu chứng, lan rộng, thâm nhiễm, hoặc gây phù nề các mô xung quanh đáng kể cần được phẫu thuật cắt bỏ.

Bệnh nhân u não thường có các triệu chứng tăng áp lực nội sọ (nhức đầu, nôn mửa, phù gai thị) hoặc các biểu hiện về thần kinh như liệt nửa người, lên cơn động kinh… 70-75% các trường hợp u não là u nguyên phát, có nhiều nguồn gốc khác nhau (mô não, màng não, dây thần kinh sọ, mạch máu, tuyến yên…). Còn lại là các ca u thứ phát do ung thư nơi khác di căn đến.

Trừ ung thư tế bào đáy của da, tất cả các loại ung thư (đặc biệt là phế quản và vú) đều có khả năng lan tràn đến não. 

U não là căn bệnh không hề hiếm gặp. Ở Mỹ, trong thập niên 90, mỗi năm có gần 400.000 ca tử vong do ung thư, trong đó có 8.500 trường hợp u nguyên phát của mô não. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 1993 đến năm 2000 có 251 ca u não được phẫu thuật.

Triệu chứng của u não

Việc điều trị u não sẽ khả quan hơn nếu bệnh nhân được phát hiện và điều trị sớm. Các triệu chứng thường gặp bao gồm:

 

  • Nhóm triệu chứng tăng áp lực nội sọ

 

– Nhức đầu: Thường lan tỏa, âm ỉ, nhức nhiều hơn vào buổi sáng sớm, mỗi khi đau nhiều thường kèm theo buồn nôn hoặc nôn. Thuốc giảm đau thường chỉ hiệu quả ở giai đoạn đầu. Về sau, triệu chứng nhức đầu tăng lên liên tục, thuốc giảm đau ít còn tác dụng.

– Nôn mửa: Lúc đầu chỉ buồn nôn khi nhức đầu tăng, về sau thường xuyên hơn và có thể nôn vọt. Nôn thường xảy ra buổi sáng, khi bụng còn rỗng, không có dấu hiệu báo trước; sau khi nôn xong có cảm giác bớt nhức đầu.

– Phù gai thị giác: Do rối loạn huyết động học (nguyên nhân là áp lực trong sọ tăng quá cao), về sau có thể dẫn đến xuất tiết, xuất huyết ở gai thị và ở võng mạc, thị lực giảm dần. Muốn chẩn đoán phù gai thị giác phải dùng đèn soi đáy mắt.

– Động kinh: Do ảnh hưởng áp lực cao trong sọ. 

– Các rối loạn về tâm thần: Bệnh nhân trở nên lãnh đạm, thờ ơ, trí nhớ giảm dần. Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân trở nên kém tỉnh táo, tri giác giảm, cuối cùng có thể đi vào hôn mê. 

 

  • Nhóm triệu chứng thần kinh khu trú

 

– Giảm chức năng: Yếu hay liệt nửa người.

– Động kinh: Cục bộ hoặc cơn toàn thể…

Các triệu chứng lâm sàng của u não ít xuất hiện đầy đủ cùng một lúc mà thường rất rời rạc, khiến ta dễ lầm với các bệnh khác. Vì vậy, phải đến bác sĩ chuyên khoa nội và ngoại thần kinh ngay khi bạn thấy có một số triệu chứng bất thường như nhức đầu nhiều ngày mà không có nguyên nhân rõ rệt (như cảm sốt, viêm mũi, viêm xoang), lại có nôn mửa, động kinh… Thầy thuốc thường phải khám đi khám lại nhiều lần ở những thời điểm xa nhau, truy tìm và tập hợp các triệu chứng, đồng thời vận dụng thật sớm các xét nghiệm về hình ảnh học mới chẩn đoán kịp thời các u não.

Nếu chỉ đi khám khi các triệu chứng lâm sàng thật đầy đủ thì khối u đã quá lớn, chèn ép các cấu trúc quan trọng trong não. Lúc này, việc phẫu thuật gặp nhiều khó khăn và dễ xảy ra biến chứng. Mặc dù u não có thể xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau trong não nhưng đều có thể nguy hiểm đến tính mạng. U dưới lều tiểu não và dọc đường lưu thông dịch não tủy sẽ làm tắc lưu thông dịch não tủy, gây giãn não thất, làm đau đầu, nôn, thay đổi cá tính, mất ngủ… U thân não làm liệt dây thần kinh sọ não, liệt nửa người. U vùng hố yên thường gây rối loạn nội tiết như dậy thì sớm hoặc muộn, thiểu năng tuyến giáp, rối loạn phát triển thể chất.

Đặc biệt, u ở bán cầu não thường khó chẩn đoán, chỉ đến khi kích thước khối u đã to, gây tăng áp lực sọ não hoặc co giật không kiểm soát được thì mới phát hiện ra.

Ở trẻ em, hay gặp nhất là u ở tiểu não (chiếm khoảng 40-50% các loại u trong não), và u cầu não (chiếm khoảng 20%). Trong đó, u ở vị trí cầu não không thế phẫu thuật được.

U não gây tử vong vì khối u làm tăng áp lực sọ não, gây ứ trệ tuần hoàn của dịch não tủy do khối u chèn ép vào các vùng lân cận. Giai đoạn muộn sẽ gây ra hôn mê rồi dẫn đến tử vong. Ngoài ra, nếu tiến hành phẫu thuật khi khối u đã lớn thì khó lấy hết được các tế bào u bướu, do đó một thời gian sau khối u lại tái phát và tỷ lệ này cũng không nhỏ.

Có thể ngăn u não hay không?

Có một đặc điểm là u não hầu như chỉ được phát hiện khi đã xuất hiện những dấu hiệu như đau đầu, nôn, rối loạn thăng bằng… mà khi đó, khối u đã phát triển tương đối to. Vì vậy, cách tốt nhất để ngăn được u não, vẫn là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”: Cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, khám bệnh định kỳ để phát hiện ngay những biểu hiện bất thường của cơ thể. 

U não ở trẻ em khởi phát từ rất sớm, có khi hai – ba tuổi đã phát hiện thấy. Tuy vậy, gặp nhiều nhất là số bệnh nhân ở độ tuổi 9-13. Vì vậy, khi cảm thấy nghi ngờ, cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa. Nếu đã phát hiện ra khối u thì cần điều trị triệt để. Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn là ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong việc điều trị các căn bệnh ung thư ở trẻ em. Mặt khác, không ít gia đình vì điều kiện kinh tế quá khó khăn nên không cho trẻ điều trị dứt điểm, để khối u tái phát. 

Dĩ nhiên, các nguyên nhân này vẫn đang để lại những kết cục buồn cho gia đình và xã hội. 

Phẫu thuật chữa trị u não

Việc phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí của khối u và tình trạng của bệnh nhân.

– Cắt bỏ hoàn toàn thường được tiến hành đối với khối u nằm ở mặt lồi, rãnh khứu giác, 1/3 trước của xoang dọc, và một số u dưới lều và hố sau.

– Cắt một phần khối u theo chủ ý có thể tiến hành với những khối u ở cánh xương bướm giữa, xoang hang, vùng cận đường dọc giữa sau, hoặc mặt dốc. Kỹ thuật cắt khối u nền sọ khó thực hiện hơn so với cắt u ở mặt lồi. Các kỹ thuật mới đã được hoàn thiện, như phẫu thuật phóng xạ điều khiển từ xa, và cho kết quả tốt hơn khi dùng bổ trợ.

– Đối với một số khối u chỉ nên tiến hành sinh thiết hoặc tốt nhất là không tiến hành phẫu thuật, ví dụ như u ở bao dây thần kinh thị, trừ khi mất thị lực hoàn toàn.

Các loại thuốc chuẩn được chỉ định trước phẫu thuật gồm có corticosteroid để giảm phù não. Ngoài ra, bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật các khối u trên đều cần được điều trị dự phòng co giật sau phẫu thuật. Khoảng 1/5 những bệnh nhân như vậy không có tiền sử bị co giật trước khi phẫu thuật và sẽ có co giật sau phẫu thuật. Các nghiên cứu riêng vã kiểm tra việc sử dụng thuốc chống co giật dự phòng sau phẫu thuật cho những bệnh nhân này thấy rằng thuốc không có hiệu quả hoặc chỉ có hiệu quả trong một thời gian ngắn (chỉ đến 10 tuần).

Một phân tích ngược các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy việc phòng chống co giật sau mổ bằng thuốc chống co giật ở bệnh nhân trước đó không bị co giật là không có ý nghĩa. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã được công bố có sai sót về phương pháp và gây khó khăn cho việc phân tích các kết quả. Ví dụ, trong phân tích ngược này chỉ có 3 trong số hơn 30 nghiên cứu đã được công bố do những vấn đề về phương pháp. Do đó, Viện Thần kinh Hoa Kỳ khuyến cáo rằng đối với bệnh nhân có u màng não và không bị co giật, nên giảm liều và ngừng thuốc chống co giật sau khi tiến hành phẫu thuật một tuần, nhất là đối với những bệnh nhân đã ổn định bệnh và những người có nhiều tác dụng phụ do thuốc. 

Trong khi phẫu thuật, người ta sử dụng manitol (1g/kg trọng lượng cơ thế) và furosemide còn PCO2 động mạch được hạ xuống 30 mmHg để giảm áp lực nội sọ. Cần phải lưu ý các dây thần kinh sọ trong khi phẫu thuật khi khối u ở gần dây thần kinh sọ não.

U màng não là những khối u mạch. U màng não ở nền sọ có thể được điều trị trước phẫu thuật bằng thuyên tắc động mạch rất chọn lọc để giảm chảy máu trong phẫu thuật và làm tăng phần khối u có thể cắt bỏ an toàn. Trong một nghiên cứu có 20 bệnh nhân, phương thức này làm giảm đáng kể mất máu đối với những khối u có đường kính dưới 6cm nhưng không giảm được thời gian phẫu thuật. Khi được chỉ định, thủ thuật này có thế được tiến hành trước phẫu thuật một ngày.

Biến chứng

Các biến chứng do thuốc và các biến chứng liên quan đến vị trí cắt bỏ khối u đều xuất hiện sau phẫu thuật u màng não. Các biến chứng nội khoa thường gặp nhất là viêm phổi, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp, huyết khối tĩnh mạch sâu và nghẽn mạch phổi.

Huyết khối tĩnh mạch sâu là một vấn đề nghiêm trọng vì u màng não có thế làm tăng đông máu và tăng nguy cơ bị huyết khối tắc mạch do phẫu thuật thần kinh. Ví dụ, trong một nghiên cứu, tần suất mới mắc huyết khối tĩnh mạch sâu sau phẫu thuật điều trị u màng não nội sọ là 72%. Rối loạn đông máu ở những bệnh nhân này rất giống với dạng

tiền lâm sàng mạn tính của tình trạng đông máu trong mạch rải rác (DIC).

Điều trị chống đông dự phòng có thể hạ thấp nguy cơ bị huyết khối tắc mạch và cần được xem xét chỉ định trong giai đoạn sau phẫu thuật cho tất cả các bệnh nhân có u não. Tuy nhiên, tác dụng này cần được cân đối với nguy cơ chảy máu trong não do thuốc chống đông mà đôi khi cần phải xử trí ngoại khoa. Tất cả các bệnh nhân được u màng não đều cần được tiêm heparin có trọng lượng phân tử thấp dưới da và dùng băng ép chân bằng khí cho đến khi bệnh nhân có thể vận động đi lại được.

Các biến chứng liên quan trực tiếp đến khối u bao gồm tăng mức độ liệt hoặc liệt sau mổ (tần suất mới mắc từ 2 đến 30% tuỳ theo vị trí khối u), xuất huyết và nhiễm khuẩn. Nếu màng nhện và màng mềm bị dính vào khối u có thế có tổn thương vỏ não và đứt đoạn hệ mạch máu ở màng mềm gây ra các ổ nhồi máu vị thể ở vỏ não. Các khối u màng não ở nền sọ có thể gây liệt dây thần kinh sọ não.

Tỷ lệ tử vong do phẫu thuật trong các nghiên cứu đã được công bố dao động từ 1% đến 14%. Trong một nhóm nghiên cứu, tỉ lệ tử vong được công bố là 7%, các yếu tố gây ảnh hưởng đến tỉ lệ này là tình trạng lâm sàng trước mổ tồi, khối u chèn ép não, tuổi cao, cắt không hết khối u, nghẽn mạch phổi và khối tụ máu nội sọ cần được lấy đi.

Bệnh nhân nhiều tuổi có nguy cơ biến chứng và tử vong sau phẫu thuật tăng. Trong một báo cáo, bệnh nhân trên 60 tuổi có tỷ lệ tử vong trong phẫu thuật là 6% và tỉ lệ biến chứng là 46%; 15% chết hoặc bị tàn tật nghiêm trọng trong vòng ba tháng sau phẫu thuật. Các kết quả tương tự được ghi nhận trong một báo cáo tổng quan ở 417 bệnh nhân trên 65 tuổi được phẫu thuật u màng não nội sọ; tỉ lệ biến chứng trung bình là 39% và tỉ lệ tử trong vòng 30 ngày là 16%. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác thu được kết quả điều trị tốt hơn khi so sánh 57 bệnh nhân tuổi từ 65 đến 87 với 57 bệnh nhân tuổi từ 25 đến 64. Tỉ lệ tử vong là 1% ở cả hai nhóm và tỉ lệ biến chứng ở nhóm bệnh nhân cao tuổi và nhóm người trẻ tuổi hơn tương ứng là 9% và 6%. Sự khác biệt này là không đáng kể khi so sánh hai nhóm theo kích thước và vị trí khối u.

Tiên lượng

Tái phát là nguyên nhân gây tử vong muộn hàng đầu ở bệnh nhân có u màng não. Các yếu tố quyết định khối u tái phát và tỷ lệ sống sót là mức độ cắt bỏ hoàn toàn khối u và cấp độ khối u. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm sai cấu trúc nhiễm sắc thể đa ổ, tạo nang, xâm lấn vào xương, mật độ khối u mềm, tuổi dưới 40, giới nam, số lượng gián phân, các vùng có ổ hoại tử, có nhiều mạch, lắng đọng hemosiderin, khối u phát triển thành từng mảng, các nhân nổi rõ, và nhân đa hình thái.

Mức độ cắt bỏ hoàn toàn – Trong nghiên cứu đầu tiên, Simpson phân cấp mức độ cắt bỏ khối u hoàn toàn, mức độ cắt sạch khối u có tương quan với tỷ lệ tái phát sau 10 năm:

– Cấp độ 1, cắt hết khối u bao gồm cả màng cứng và xương – tỷ lệ tái phát 9%.

– Cấp độ 2, cắt hết khối u kết hợp với làm đông phần màng cứng bị gắn vào khối u – tái phát 19%.

– Cấp độ 3, cắt hết khối u nhưng không cắt hoặc làm đông phần màng cứng gắn vào khối u – tái phát 29%.

– Cấp độ 4, cắt bán phần khối u – tái phát 40%. 

– Cấp độ 5, phẫu thuật làm giảm sự chèn ép của khối u.

Cắt bỏ hoàn toàn khối u trên đại thể được tiến hành ở khoảng 80% bệnh nhân và cho tỉ lệ sống sót không tiến triển bệnh 10 năm khoảng 70 – 80%. Tỉ lệ tái phát tăng rõ rệt ở những bệnh nhân không cắt được hết toàn bộ khối u và bệnh nhân có u ác tính. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rõ điều này:

Một nghiên cứu trên 581 bệnh nhân được phẫu thuật cắt khối u màng não nguyên phát ngay từ đầu từ năm 1978 đến năm 1988, tỉ lệ sống sót không tiến triển ở nhóm bệnh nhân được cắt hết toàn bộ khối u trên đại thể cao hơn so với ở nhóm bệnh nhân không được cắt hết khối u kế cả sau 5 năm (88% so với 61%) và cả sau 10 năm (75% so với 39%).

– Nghiên cứu thứ hai tiến hành trên 935 bệnh nhân được phẫu thuật từ năm 1953 đến năm 1980, tỉ lệ sống sau 15 năm là 63%, bằng 78% tuổi trung bình. Bệnh nhân không được cắt hết khối u có tỉ lệ tử vong cao gấp 4,2 lần so với bệnh nhân được cắt hết khối u. Bệnh nhân có khối u ác tính có tỉ lệ tử vong cao hơn 4,6 lần so với bệnh nhân có u lành tính.

Sai lệch cấu trúc nhiễm sắc thể

U màng não có nhiều dạng sai cấu trúc nhiễm sắc thể và một số đột biến gen nhất định có thể làm tăng nguy cơ ác tính. Trong một nghiên cứu, người ta chia 198 bệnh nhân được cắt khối u cấp độ I hoặc II theo Simpton thành các nhóm theo rối loạn nhiễm sắc thể như sau: nhóm 0, các nhiễm sắc thể lưỡng bội bình thường; nhóm 1, chỉ có một nhiễm sắc thể thứ 22; nhóm 2, chỉ có một nhiễm sắc thể thứ 22 và các biểu hiện giảm bội khác; nhóm 3, mất 1p và chỉ có một nhiễm sắc thể thứ 22. Nguy cơ tái phát u màng não đối với bệnh nhân ở nhóm 0 và 1, 2, 3 tương ứng là 4,3%; 10,5% và 30%.

Chiếu xạ bổ trợ

Chiếu xạ bổ trợ thường được chỉ định cho một số bệnh nhân sau phẫu thuật cắt u màng não nội sọ.

Cắt không hoàn toàn

Chiếu xạ ngoài có tác dụng rất lớn trong việc làm giảm tỉ lệ tái phát ở bệnh nhân không được cắt bỏ u hoàn toàn trên đại thể. Khi không thể tiến hành cắt bỏ hoàn toàn một u màng não lành tính, cắt gần toàn bộ khối u phối hợp với các kỹ thuật lập phác đồ điều trị chính xác kết hợp với chiếu xạ bổ trợ có thể cho các kết quả gần bằng các kết quả đạt được khi cắt bỏ hoàn toàn khối u.

Trong một nghiên cứu hồi cứu, tỉ lệ tái phát ở bệnh nhân được cắt bỏ gần hoàn toàn khối u và được chiếu xạ là 32% và không được chiếu xạ là 60%. Thời gian trung bình cho tới khi bệnh tái phát cũng dài hơn ở nhóm bệnh nhân được chiếu xạ sau phẫu thuật (125 tháng so với 66 tháng).

Nghiên cứu thứ hai có tỉ lệ sống sót 10 năm là 49% khi bệnh nhân chỉ được cắt khối u bán phần và 93% đối với bệnh nhân được cắt bỏ khối u bán phần phối hợp với chiếu xạ. Tỉ lệ kiểm soát tại chỗ là 18% và 82% trong hai nhóm.

Tiên lượng của bệnh nhân có u màng não lành tính được cắt bỏ gần toàn bộ rồi được chiếu xạ sau phẫu thuật được cải thiện cùng với sự phát triển của các công nghệ chiếu xạ mới hơn như chụp cắt lớp vi tính, hoặc chụp cộng hưởng từ. Ví dụ, trong một báo cáo tỷ lệ sống sót không tiến triển 5 năm ở bệnh nhân được điều trị trước và sau năm 1980 tương ứng là 77% và 98%. Trái lại, tỉ lệ sống sót không tiến triển bệnh của bệnh nhân có u màng não ác tính được cắt bỏ gần toàn bộ được chiếu xạ bổ trợ không thay đổi trong khoảng thời gian này.

U màng não cấp độ cao

U màng não ác tính có nguy cơ tái phát rất cao sau phẫu thuật ngay cả khi khối u đã được cắt bỏ hoàn toàn trên đại thể. Chiếu xạ sau phẫu thuật có thể cải thiện tiên lượng cho những bệnh nhân này.

Trong một nghiên cứu có 38 bệnh nhân bị khối u ác tính, chiếu xạ bổ trợ sau cắt bỏ khối u ban đầu làm tăng đáng kể tỷ lệ sống sót không mắc bệnh sau 5 năm, từ 15% lên 80%. Nhiều tác giả không khuyến cáo chiếu xạ bổ trợ thường quy cho những bệnh nhân đã được cắt toàn bộ khối u.

Kỹ thuật và độc tính

U màng não lành tính không được cắt hết toàn bộ và có dấu hiệu phát triển thường được chiếu xạ vào cả vùng có khối u trước phẫu thuật và một phần nhỏ mô lành xung quanh (mép rộng 1-2 cm), tuỳ theo kết quả chụp CT hoặc MRI và được bác sĩ phẫu thuật thần kinh điều chỉnh. Các khối u lành tính được chiếu với liều 54 Gy chia thành phân liều 1,8 đến 2 Gy hàng ngày, còn các khối u ác tính được chiếu với liều 60 Gy.

Các biến chứng nghiêm trọng khi chiếu xạ ngoài đối với u màng não còn sót và tái phát có thể do tác dụng của tia đối với mô não lành xung quanh khối u gây ra. Các biến chứng có thể bao gồm suy giảm chức năng, đột quỵ, mù đột ngột, hoại tử vỏ não, tử vong và đôi khi gây ra khối u thứ hai. Suy tuyến yên hoặc đục thuỷ tinh thể có thể xảy ra khi tuyến yên hoặc thuỷ tinh thể nằm kế cận với khối u.

Trong một nghiên cứu có 82 bệnh nhân bị u màng não ở vùng nền sọ được phẫu thuật và chiếu xạ sau phẫu thuật các tác giả thấy có 6 trường hợp bị giảm thị lực (5 người bị đục thuỷ tinh thể 1 võng mạc do chiếu xạ), 3 bệnh nhân bị suy tuyến yên, 4 bệnh nhân bị mất trí nhớ tạm thời. Trong thập kỷ qua, phẫu thuật phóng xạ điều khiển từ xa bằng dao gamma và máy gia tốc thẳng được sử dụng để điều trị cho những khối u có kích thước nhỏ ở các vị trí khó phẫu thuật triệt đế.

– Trong một nghiên cứu, 127 bệnh nhân có 155 khối u màng não được tiến hành phẫu thuật phóng xạ điều khiển từ xa với máy gia tốc thẳng để điều trị ban đầu (48 tổn thương) hoặc điều trị sau phẫu thuật (107 tổn thương). Với trung vị thời gian theo dõi là 23 tháng, 84% bệnh nhân không bị tiến triển và tỉ lệ sống sau 1 năm và 5 năm của cả nhóm tương ứng là 90% và 68%. Dưới 5% bệnh nhân có biến chứng lâu dài do phẫu thuật phóng xạ.

– Nghiên cứu thứ hai tiến hành trên 55 bệnh nhân có u màng não vùng nền sọ không cắt bỏ được, phẫu thuật phóng xạ làm ổn định sự phát triển khối u ở 38 bệnh nhân (69%), thu nhỏ khối u ở 16 bệnh nhân (29%), chỉ một bệnh nhân (2%) có u to lên sau thời gian theo dõi trung bình là 48,4 tháng.

– Kết quả của một nhóm nghiên cứu khác cho thấy những bệnh nhân không được cắt toàn bộ khối u có tỉ lệ kiểm soát tại chỗ là 92% sau 28 tháng và vùng cải thiện trên lâm sàng ở 34%. Một nghiên cứu hồi cứu cùng thời điểm trên 82 bệnh nhân u màng não phân liều cũng cho kết quả tương tự, trong đó tỉ lệ sống sót không tiến triển bệnh 5 năm là 92%.

Rất khó tiến hành phẫu thuật đối với các khối u màng não ở cận đường dọc giữa do có nhiều biến chứng sau mổ. Trong một nghiên cứu đa trung tâm, 66 bệnh nhân như vậy được điều trị ban đầu bằng phẫu thuật phóng xạ. Tỷ lệ kiểm soát thực 5 năm là 93%. Những bệnh nhân có khối u nhỏ và chưa được phẫu thuật trước đó không có thất bại điều trị trên lâm sàng, tức không cần điều trị bổ sung hoặc chức năng thần kinh không xấu đi. Dựa trên các số liệu này, người ta khuyến cáo nên phẫu thuật ngay từ đầu sau đó tiến hành phẫu thuật phóng xạ điều khiển từ xa hoặc chiếu xạ phân liều cho một số trường hợp nhất định.

Hoá chất, hoóc môn trị liệu 

Một số ít bệnh nhân có u màng não tái phát, không thể phẫu thuật hoặc ác tính đã được điều trị bằng hóa chất, hoóc môn và liệu pháp miễn dịch với các kết quả khác nhau. Một số phác đồ điều trị có chút ít hiệu quả đối với u màng não ác tính bao gồm cyclophosphamide, adriamycin và vincristin (phác đồ CAV); dacarbazine và adriamycin, hoặc ifos-famide liều cao.

Hoá chất bổ trợ

Vai trò của hoá chất đối với tỷ lệ sống thêm và làm chậm sự tiến triển bệnh sau phẫu thuật chưa được xác định rõ. Trong một nghiên cứu, 14 bệnh nhân có u màng não ác tính được điều trị bằng phẫu thuật (4 bệnh nhân được cắt toàn bộ u trên đại thể, 10 bệnh nhân được cắt u bán phần), sau đó được chiếu u xạ vào vùng tổn thương (trung vị liều 60 Gy) và hoá chất bổ trợ (CAV 3 hoặc 6 đợt) bắt đầu sau 2 đến 4 tuần. Dựa vào kết quả thăm dò hình ảnh hệ thần kinh người ta thấy 3 bệnh nhân có đáp ứng một phần và 11 bệnh nhân ổn định trong thời gian điều trị. Trung vị khoảng thời gian đến thời điểm Khối u tiến triển và thời gian sống thêm tương ứng khối là 4,6 và 5,3 năm. Các kết quả này tốt hơn so với kết quả đạt được khi bệnh nhân được phẫu thuật và chiếu xạ sau phẫu thuật. Ảnh hưởng của hóa chất đối với kết quả điều trị còn chưa được xác định rõ.

Bệnh giai đoạn muộn

Một số tác dụng của mifepristone, hydroxyurea đã được công bố sơ bộ:

Mifepristone – Mifepristone (RU486) là một đối kháng thụ thể của glucocorticoid và progesterone. Các bằng chứng về dịch tễ học (tần suất mắc bệnh ở nữ giới cao hơn, đi kèm với thai nghén và ung thư vú, tần suất có thụ thể progesterone ở u màng não) cho thấy vai trò điều phối của progesterone trong điều trị u màng não. 25 đến 30% bệnh nhân u màng não không thể phẫu thuật được có cải thiện khách quan khi được điều trị bằng mifepristone (200-400mg/ngày). Các nghiên cứu vẫn còn đang được tiến hành.

Hydroxyurea – Hydroxyurea gây chết tế bào theo chương trình, ức chế sự tăng trưởng tế bào u màng não trong môi trường nuôi cấy nhưng kinh nghiệm trên lâm sàng còn hạn chế. Trong một nghiên cứu sơ bộ, ba bệnh nhân có u màng não không thể cắt bỏ cấp độ I tái phát và 1 bệnh nhân có u màng não ác tính đã được phẫu thuật 6 lần để điều trị triệu chứng được uống hydroxyurea (20mg/kg/ngày).

Kích thước khối u giảm 15% – 74% ở 3 bệnh nhân có khối u. 4 bệnh nhân có u ác tính không bị tiến triển sau 24 tháng.

Liệu pháp miễn dịch

– Các tác giả thông báo kết quả của nghiên cứu đánh giá tác dụng của interferon alpha (IFN- alpha) đối với sự tăng trưởng của các tế bào u màng não được nuôi cấy. Nghiên cứu tiến hành trên 6 bệnh nhân u màng não và một bệnh nhân u màng não u xơ thần kinh phát triển từ bệnh u xơ thần kinh týp 2; các nhà nghiên cứu nhận thấy IFN- alpha có khả năng ức chế mạnh sự tăng trưởng của cả bảy khối u khi có các tác nhân kích thích phân bào (huyết thanh bào thai bò hoặc yếu tố tăng trưởng biểu bì). Đáp ứng tối đa dao động trong khoảng 100% và 70% khi dùng kết hợp với thymi-dine đã được đánh dấu bằng triti. Trong một số trường hợp, có thể thu được đáp ứng ức chế khi dùng các mức liều rất thấp (<10U IFN – alpha/ml). 

Các kết quả này cho thấy rằng cần tiếp tục nghiên cứu về tác dụng của IFN-alpha trong điều trị u màng não 

– U màng não ác tính tái phát và u màng não không còn khả năng phẫu thuật là một thách thức điều trị lớn sau khi chiếu xạ thất bại. Hiện chưa tìm thấy một hoá chất nào có hiệu quả. Nghiên cứu này công bố các kết quả điều trị ban đầu cho bệnh nhân có u màng não ác tính tái phát hoặc không thể phẫu thuật bằng inteferon alpha – 2B tái tổ hợp (IFN-alpha – 2B).

Mỗi bệnh nhân có u màng não ác tính tái phát hoặc u màng não không còn khả năng phẫu thuật được điều trị bằng IFN-alpha với liều mU/m2/ngày, 5 ngày/tuần tiêm dưới da. Hai trong số 6 trường hợp u màng não ở thể thông thường, một trường hợp ở thể không điển hình và 3 trường hợp ở thể ác tính.

5 trong số 6 bệnh nhân có đáp ứng với điều trị; kích thước khối u ổn định ở 4 bệnh nhân và khối u thoái triển chút ít ở 1 bệnh nhân. Đáp ứng kéo dài từ 6 đến 14 tháng. Độc tính do dùng IFN-alpha kéo dài ở mức độ nhẹ và được dung nạp tốt.

Các kết quả này cho thấy IFN-alpha có hiệu quả trong điều trị u màng não ác tính tái phát.

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply

Y Đức
Logo
Enable registration in settings - general